Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2008


Mục lục Chương I Hình nhi hạ học Giáo lý công truyền Thiên:
09 : Thầy lập Cao-Ðài Ðại-Ðạo như thế nào ? 29 : Ðại Ðạo luận 32 : Ðạo là gì ? 36
13 : Kiên Nhẩn 61 : Hạnh người tu 61
26 : Lý Ðạo phép tu 117 : "Mê - Giác" 121
27 : Thập nhị liên phong 124
28 : Luyện kỷ tu thân 126 : Qui Tam-bửu Ngũ-hành 128
29 : Tầm tu Chơn-Ðạo 130 : Luyện Ðạo tu hành 131
Chương I I Hình Nhi Thượng Học Ðại Thừa Chơn Pháp
31 : Hậu-Thiên cơ ngẩu 140 : Thầy luận chử Tu 144
34 : Thập Tự Tam-Thanh 158 : Tam Giáo 162 : Ngũ-Hành 162 : Cao-Ðài Ðại-Ðạo và Cao-Ðài Tôn-Giáo 164
37 : Xuất Thần 175 : Thất Tình 179
45 : Thiên-đàng địa-Ngục 210
46 : Ðạo-Ðạo phục hưng Cao-Ðài xuất thế 212 : Cách thờ phượng 216 Chương I I I Ấn Chứng Thiêng Liêng Ðàn ra kinh Ðại Thừa
49 : Bích-Vân Tiên-Cô 228 Ðàn Chợ Lớn
50 : Ðại-Giác Chơn-Tiên 231
55 : Huệ-Mạng Kim-Tiên 242 Trước-Tiết Tàng-Thơ
59 : Thanh-Hư Ðạo-Nhơn 251
60 : Ngọc-Thiên Tiên-Nương 253
61 : Ngọc-Bữu Nương-Nương 254 Long-Ẩn Ðàn
62 : Ngọc-Diêu Tiên-Nương 256
63 : Ngộ-Tánh Chơn-Nhơn 259
64 : Ngọc-Hoa Tiên-Nương 262 Tiên Phong : Càn-Tịch 265 : Khôn-Tịch 266

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2008


ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ
***
HỘI THÁNH dưới quyền ủng hộ của
Đức Giáo-Tông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG
TOÀ THÁNH BẾN TRE
KINH CÚNG TỨ THỜI
QUAN HÔN TANG TẾ
Mục Lục:
1.Kinh Cúng Tứ Thời:
Gồm có các Kinh(Theo Thứ Tự sau):Niệm Hương,Khai Kinh,Ngọc Hoàng Kinh,Phật Giáo Kinh,Tiên Giáo Kinh,Thánh Giáo Kinh,Dâng Hoa,Dan Ruọư,Dâng Trà,Ngũ Nguyện,Giải Khổ,Đoạt Nghiệt,Chuyển Pháp Lôi Âm,Chuyển Luật Bạch Ngọc,Phật Mẫu Kinh,Cũư Nương Kinh,Kinh Cầu Siêu,Kinh Sám Hối (Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối),Kinh Cứu Khổ.Phụ Thêm:Trai Kỳ,Các Thờ Phượng Trong Nhà,Cách Lạy.
2.QUAN,HÔN,TANG,TẾ
Lời Tựa,
KINH SANH:Tắm Thánh,Vào Học,Ăn Cơm,Ăn Cơm Rồi,Đi Ngủ,Thức Dậy.
HÔN NHƠN:Gia Quan,Gia Kê,Vu Quy,Lời Nguyện Cầu Hôn,Sám Hôn Phối,Giao Bôi.
KINH LÃO:Đáo Tế,Con Cháu Chúc Mừng,Bài thài Lễ Đáo Tế-Tuần Hương-Sơ-A-Chung-Hựu Thực-Hiến Trà.
KINH BỆNH:Cầu Cho Con Lành Bịnh,Cầu Cho Mình Lành Bịnh,Cầu Cho Người Lành Bịnh.
KINH TỬ:Cầu Hôn Khi Hấp Hối,Đưa Linh Hồn,Tuyệt Khí,Nhập Mạch,Cầu Siêu Người Mới Từ Trần,Cáo Từ Tổ,Thỉnh Vong,Thành Phục,Tiêu Trịch.
KINH ĐIẾU:Điếu Tang,Cha Mẹ Quy Liễu,Tổ Phụ Quy Liễu,Chồng Quy Liễu,Vợ Quy Liễu,Bà Con Quy Liễu.
KINH TỐNG CHUNG:Cáo Đạo Lộ,Cáo Thuỷ Thần,Cáo Minh Sanh(Thiên Bàn),Cáo Minh Sanh (Từ Tổ),Động Quan,Tống Linh Cửu,Đưa Linh,Cáo Hậu Thổ,Hạ Rộng,Từ Gĩa Mồ Phần,Dẫn Vong,An Linh Sàng,Từ Gĩa Vong Linh.
KINH LÀM TUẦN:Khai Cửu,Kinh Nhứt-Nhị-Tam-Tứ-Ngũ-Lục-Thất-Bát-Cửu Cửu,Tiểu Tường,Đại Tường,Tỉnh Tiên Linh.
KINH KỴ LẠP:Kỵ Cơm,Gĩô Hội 1,Gĩô Hội 2,Hiến Hoa(Thông Dụng)-Hoa(Cha Mẹ)-Trà(TD)-Trà(CM)-Qủa(TD)-Qủa(CM)
Xin bấm vào đây để xem kinh:(Đăng Sau)

Lời Dạy cần yếu Của Đức Giáo Tông




Lời Dạy cần yếu Của Đức Giáo Tông
_*_
Nền Đại Đạo đã lập thành.Mỗi vị chức sắc lưỡng phái nhứt là mấy vị có trách nhiệm trọng yếu,phải giữ gìn hạnh phúc cho hoàn toàn phải giữ tâm từ thiện khiêm cung,thanh liêm thành chánh,đị độ khoan dung,phải giữ lòng thương yêu hòa thuận,sốt sắng,siêng năng,giúp đỡ dắt dìu mà đối đãi với hết thảy mọi người,phải làm nên gương lành,gương tốt,tỏ rạng cho đoàn em bắt chuoc noi theo .
Nghiêm Cấm từ đây không cho một ai ở trong Thánh Thất được giễu cợt,kích bát hờn giận nói hành.Cấm không cho cãi lẫy lớn tiếng,bỏ giọng cay chua,buôn lời thô lỗ mà dẫn lối cho tà quái xâm vào .

Nếu bất tuân phạm cấm,sẽ bị hành phạt nhãn tiền.
Ước mong sao cho các em Nam,Nữ giữ tròn hạnh đức,qua khỏi chuoc tà,mà thọ hưởng nhiều ân huệ của Thầy ban bố sau này .
May Thay !

Lành Thay !
Bến Tre,ngày 22 tháng giêng năm Mậu Dần (1938)

Tóm Lược Tiểu Sử Đức Thượng Chưởng Pháp Lê Bá Trang.



Lê Bá Trang

Tài liệu trích trong Lịch Sử đạo Cao Ðài của soạn giả Ðồng Tân

Ngài Lê Bá Trang sinh trưởng tại Sa Ðéc. Buổi trẻ tuổi làm Thơ ký ở Sài Gòn, sau đậu Tri huyện ngồi Tòa bố ở Bến Tre rồi đổi làm chủ quận Thủ Ðức (Gia Ðịnh). Ở quận này lâu năm,Ngài được thăng Tri phủ hạng nhất. Năm 1925, làm chủ quận Châu thành Chợ lớn rồi thăng lên Ðốc phủ sứ, Ðạo khai, Ngài nhập môn tháng 05/1926. Qua tháng 08, Ngài được phong Ngọc Chánh Phối sư. Qua tháng 03/1927, Ngài đổi làm chủ quận Vũng Tàu. Ðược vài năm sau, khoãng 1929, Ngài xin từ quan, về Tòa Thánh chung lo việc đạo.

Năm 1930, đức Lý Giáo Tông phong quyền Ðầu sư, nhưng thực sự thi hành chức vụ từ năm 1933, và bị ngưng quyền từ đó do nghị định của hai ông Trung và Tắc ngày 28/07/1933, cùng một lúc với Ngài Thượng Tương Thanh.

Năm 1934, ông cùng ông Tương tách rời Tòa Thánh Tây Ninh về An Hội (Bến Tre) lập Ban Chỉnh Ðạo. Năm 1935, trước khi Ngài Nguyễn Ngọc Tương đắc cử Giáo Tông, Ngài được cử giữ chức vụ Chưỡng pháp tại Bến Tre cho đến khi Ngài mất (1936) tại đây.

Sau khi Ngài mất Đức Giáo Tông báo cho toàn Đạo được biết Ngài là :"Cái Thiên Tiên Quan"là Chơn Linh của Quan Thánh Đế Quân"
Có thể nói Ngài là người hướng đạo đầy nhiệt tâm và vô tư nhất.

Tóm Lược Tiểu Sử Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương


Ngày 17-5-Bính Dần, Ngài được Ơn Trên phong phẩm Phối Sư phái Thượng (Thượng Tương Thanh), đến 3-7-Bính Dần Ngài được thăng Thượng Chánh Phối Sư tại Vĩnh Nguyên Tự.

Ngài THƯỢNG TƯƠNG THANH (NGUYỄN NGỌC TƯƠNG )(1881 - 1951)Ngài Nguyễn Ngọc Tương sinh ngày 26-5-Tân Tỵ (22-6-1881) tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre. Thân phụ Ngài là cụ ông Nguyễn Ngọc Đẩu (1857 – 1882), mất lúc Ngài được mười ba tháng. Thân mẫu là cụ bà Võ Thị Sót (1856 – 1919).Lúc nhỏ, ở với nội là cụ ông Nguyễn Hữu Chơn (1832 – 1908), Ngài được cho học chữ Nho và quốc ngữ tại nhà. Năm 14 tuổi ra học trường tỉnh, đến 17 tuổi (1898), Ngài thi đậu vào Collège de Mỹ Tho. Năm 19 tuổi (1900), Ngài lên Sài Gòn học ở trường Chasseloup Laubat và tốt nghiệp năm 1902.Ngài thành hôn với bà Trương Thị Tài (1886 – 1906) vào năm 1902, bốn năm sau bà mất, để lại hai con là Nguyễn Thị Tú (1903 – 1926) và Nguyễn Ngọc Hớn (1906 – 1951). Tái thú với bà Bùi Thị Giàu (1884 - 1937) năm 1908, Ngài có thêm ba người con trai là Nguyễn Ngọc Kỷ (1910 - 1978), Nguyễn Ngọc Bích (1911 - 1966) và Nguyễn Ngọc Nhựt (1918 - 1952) và hai gái là Nguyễn Thị Yến (1913) và Nguyễn Thị Nguyệt (1915).Ngài Nguyễn Ngọc Tương thi đậu ngạch thơ ký Thượng Thơ, làm việc tại phòng Thượng Thơ Sài Gòn một năm , sau đó về Bến Tre làm việc từ 1903 đến 1919. Tại Bến Tre, Ngài tham gia nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục, đạo đức (như cùng tổ chức thành lập hội Buôn An Nam, hội Khuyến Văn...). Đến cuối năm 1919, Ngài thi đậu ngạch Tri Huyện, làm chủ quận Châu Thành (Cần Thơ) được ba tháng thì đổi đi quận Hòn Chông, tỉnh Hà Tiên. Từ năm 1924 đến 1927, Ngài làm chủ quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Thời gian này, Ngài được thăng Tri phủ Thượng Thơ, và nhập môn Cao Đài (khoảng hạ tuần tháng Chạp Ất Sửu). Ngài đã độ dẫn nhiều nhân sĩ quanh vùng, cũng chính vì vậy nhà cầm quyền lại chuyển công tác cho Ngài đi xa.Từ 1927 đến 1930, Ngài làm chủ quận Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa. Nơi đây, Ngài khai hoang, mở trường, lập chợ, đắp đường nối Long Hải với Nước Ngọt... giúp ích rất nhiều cho địa phương, thuở ấy còn khá hoang sơ. Đồng thời Ngài cũng kết hợp truyền giảng mối đạo Trời.Ngày 17-5-Bính Dần, Ngài được Ơn Trên phong phẩm Phối Sư phái Thượng (Thượng Tương Thanh), đến 3-7-Bính Dần Ngài được thăng Thượng Chánh Phối Sư tại Vĩnh Nguyên Tự. Tháng 2 năm Tân Mùi (1931), Ngài Thượng Tương Thanh phế đời, hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Văn bản đầu tiên của Ngài (số 1, gởi đến các Thánh Thất) ban hành vào ngày 2-2-1931.Đầu năm 1927, thọ lệnh Đức Lý Giáo Tông tại chùa Gò Kén, Ngài cùng bà Lâm Hương Thanh đứng bộ đất đai, tài sản tại Thánh địa mới mua (làng Long Thành, Tây Ninh). Điều thứ nhì Đạo Nghị Định thứ Nhì ban hành ngày 3-10-Canh Ngọ (1930) đã chỉ định Ngài Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh kiêm Quyền Thượng Đầu Sư.Từ năm 1931 đến 1934, tại Thánh địa Tây Ninh, Ngài đã góp phần vào việc khai khẩn đất, cải tiến giáo dục và y tế. Thời gian này cơ đạo gặp nhiều sự chinh nghiêng. Năm 1934, Ngài lui về ẩn tu tại núi Kỳ Vân (Đất Đỏ- Bà Rịa) một thời gian. Sau đó, đến 24/7/1934, Ngài trở lại hành đạo và tạm lập văn phòng tại Thánh thất Bình Hòa (Gia Định) và An Hội (Bến Tre). Ngày 14-10-Giáp Tuất (20/11/1934) nhị vị Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh và Quyền Đầu Sư Ngọc Trang Thanh cùng tách rời Tây Ninh về Bến Tre lập Ban Chỉnh Đạo Theo quyển “Tiểu Sử Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương”, trang 53, cho biết: đến ngày 15-1-Mậu Dần (1938) nhiệm vụ Chỉnh Đạo đã chấm dứt. “Từ nay, chỉ có Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để hướng dẫn nhơn sanh tu hành đúng theo chơn truyền và Tân pháp Đức Chí Tôn”.. Ngày 11-1-Ất Hợi (1935) tại Thánh Thất An Hội Bến Tre, Đại Hội bầu cử Ngài Thượng Tương Thanh làm Giáo Tông (Ban Chỉnh Đạo).Bên cạnh việc phổ độ nhơn sanh, Ngài Thượng Tương Thanh rất chú trọng đến pháp môn tu tịnh. Từ khi xuất gia hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh, hằng ngày Ngài trì hành công phu tứ thời. Khoảng thời gian từ 1934 đến 1942, Ngài qua 10 kỳ đại tịnh, có đợt đến 120 ngày.Và, đến đợt đại tịnh cuối cùng từ 22-2-Nhâm Ngọ (1942) đến ngày Ngài đăng Thiên vào Rằm tháng 5 - Tân Mão (18-6-1951), thời gian tổng cộng 9 năm 81 ngày. Đạo gia gọi là Cửu niên diện bích. Liên đài của Ngài an vị trước Thánh Thất An Hội.
© Trích Sử Đạo I (CQPTGL)
Thời gian tới sẽ đăng nguyên quyển Tiểu Sư, nội dung gốc .

Lược Sử Khai Đạo ra Bắc .


Thánh Thất Hà Nội một nơi dư tiếng âm vang cao đài yêu nước,một nơi ai đến cũng phải ngậm ngùi nhớ thương anh lớn Đầu Sư Tô Văn Pho .
Sau đây xin trình bài Lược Sử đầy cảm đông,thân thương của những con người,sự kì lạ kiên trì ở Ông Sáu Thượng (Thường gọi ông sáu pho)"Lược Sử Đạo Cao Đài Miền Bắc"do tác giả Lê Anh Dũng soạn thảo.Bên cạnh đó còn có một người con gái quê ở Hà Nội vì lòng tin yêu kính thờ Thượng Đế nên đã tự tu tại gia để đến khi may duyên gặp Đạo Tam Kỳ.
Xin trích lục ra 4 phần của sách :
Lược sử 1:
Lược Sử 2:
Lược Sử 3:
Lược Sử 4:
Hết !
Thi :
"Kỷ Mùi xuất thế bậc danh đồ
Thử hỏi ai từng gặp Lão Tô ?
Mười Tám năm sau nên Nghiệp Đạo
Ký Tiềm như Đạo thoả lòng mong"

Chú Giải Tổ Đình-Toà Thánh Kiến Hoà

Sơ Lược Phần Chú Giải Địa Hình


Trích trong quyển Chú giải Tổ Đình do Ban Kiến Thiết Tổ Đình thuộc Tòa Thánh Kiến Hòa ( Thánh Địa Bến Tre) biên soạn và phát hành do Giấy Phép số 4970/74/BDVCH/PHBCNT7ALP/TP ngày 11.9.1974.

Đề thi của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương ra để cho chư đệ nào giải đáp được sẽ chọn in trong quyển CHÚ GIẢI TỔ ĐÌNH“ Tòa Thánh Kiến Hòa Thánh Địa Bến Tre.Đề thi: “ Tại sao THẦY đến mở Đạo Kỳ Ba tại nước Việt Nam ta là một nước nhỏ nhen trong vạn quốc? “


Ngày 01 thánh 02 năm Kỷ Sửu (1949), Đức Giáo Tông cho ra đề thi rằng: “ Tại sao THẦY đến mở Đạo Kỳ Ba tại nước Việt Nam ta là một nước nhỏ nhen trong vạn quốc? “.
Trong số những bài đáp có bài Anh Lớn Đầu Sư Thái Giáp Thanh, lúc đó làm Thái Chánh Phối Sư, nhờ nhớ rõ lời dạy của THẦY và của Đức Giáo Tông từ trước nên bài trả lời của Anh Lớn được Đức Giáo Tông chọn làm bài mẫu để truyền bá trong chức sắc và toàn Đạo.Bài trả lời nầy có đoạn nói rõ về Thánh Địa Tây Ninh và Thánh Địa Bến Tre như sau :http://thanhthatanthuy.sky.vn/archives/28

Thi:
Một Toà Thiên Các ngọc lào lào
Liền bắt cầu qua nhấp nhó sao.
Vạn tượng then gài ngăn Bắc Đẩu
Muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào .
Chư Thần choá mắt màu thường đổi
Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao
Dời đổi chớp giăng đoanh đở nổi,
Vững bền vạn kiếp chẳng hề xao.






Đại Đạo Căn Nguyên-Thuần Đức Bảo Pháp

MỤC LỤC
Cẩn Từ
Lời tựa tác giả
Lời tựa của ông Đoàn Văn Bản
Lời tựa của ông Trương Hữu Đức
Lời tựa của ông Lê Văn Giảng
Đạo vẫn có Một
Tam Kỳ Phổ Độ là gì?
Sự tích Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Thượng Đế thâu phục Quan phủ Ngô Văn Chiêu
Thượng Đế thâu phục mấy vị phò loan
Thượng Đế thâu phục ông Lê Văn Trung
Hiệp với ông Ngô Văn Chiêu
Ông Ngô Văn Chiêu tách riêng
Đàn lệ
Khai Đạo nơi Chánh Phủ
Phổ độ lục tỉnh
Sự tích cảnh chùa Từ Lâm
Ngày khai Thánh Thất
Cuộc biến
Trường công kích
Dời Tòa Thánh về làng Long Thành Tây Ninh
IN TẠI TAM KỲ ẤN QUÁN-TOÀ THÁNH KIẾN HOA2



LỜI TỰA
CỬU TRÙNG ĐÀI
I. QUYỀN HÀNH GIÁO TÔNG
II. QUYỀN HÀNH CHƯỞNG PHÁP
III. QUYỀN HÀNH ĐẦU SƯ
IV. QUYỀN HÀNH CHÁNH PHỐI SƯ
V. QUYỀN HÀNH PHỐI SƯ
VI. QUYỀN HÀNH GIÁO SƯ
VII. QUYỀN HÀNH GIÁO HỮU
VIII. QUYỀN HÀNH LỄ SANH
IX. QUYỀN HÀNH CHÁNH TRỊ SỰ
X. QUYỀN HÀNH PHÓ TRỊ SỰ
XI. QUYỀN HÀNH THÔNG SỰ






ÐẠO PHỤC CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI NAM PHÁI
ÐẠO PHỤC GIÁO TÔNG
ÐẠO PHỤC CHƯỞNG PHÁP
ÐẠO PHỤC ĐẦU SƯ
ÐẠO PHỤC CHÁNH PHỐI SƯ & PHỐI SƯ
ÐẠO PHỤC GIÁO SƯ
ÐẠO PHỤC GIÁO HỮU
ÐẠO PHỤC LỄ SANH
ÐẠO PHỤC CHÁNH TRỊ SỰ
ÐẠO PHỤC PHÓ TRỊ SỰ
ÐẠO PHỤC THÔNG SỰ
CỬU TRÙNG ĐÀI NỮ PHÁI
THÁNH NGÔN CỦA GIÁO TÔNG LÝ THÁI BAÏCH
QUYỀN HÀNH ĐẦU SƯ
QUYỀN HÀNH CHÁNH PHỐI SƯ & PHỐI SƯ
QUYỀN HÀNH GIÁO SƯ
QUYỀN HÀNH GIÁO HỮU
QUYỀN HÀNH LỄ SANH
QUYỀN HÀNH CHÁNH TRỊ SỰ
QUYỀN HÀNH PHÓ TRỊ SỰ
QUYỀN HÀNH THÔNG SỰ
LUẬT CÔNG CỬ CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI (Nam Phái và Nữ Phái)
HIỆP THIÊN ĐÀI
ÐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI
ÐẠO PHỤC CỦA HỘ PHÁP
ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG PHẨM
ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG SANH
ÐẠO PHỤC CỦA THẬP NHỊ THỜI QUÂN
ÐẠO PHỤC CỦA BẢO VĂN PHÁP QUÂN
ÐẠO PHỤC CỦA BẢO SANH QUÂN
BÀI DIỄN VĂN CỦA HỘ PHÁP




Mục Lục
Lời Tựa











các thịện- nam, tín-nữ?. Trước Thầy giáng sanh lập Phật-giáo, nay dùng huyền diệu mà giáo Ðạo chớ không giáng sanh nữa








































































Tân Luật Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

CHƯƠNG I:
Về Chức Sắc Cai Trị Trong Đạo
CHƯƠNG II:
Về Người Giữ Đạo
CHƯƠNG III:
Về Việc Lập Họ
CHƯƠNG IV:
Về Ngũ Giới Cấm
CHƯƠNG V:
Về Tứ Đại Điều Qui
CHƯƠNG VI:
Về Giáo Huấn
CHƯƠNG VII:
Về Hình Phạt
CHƯƠNG VIII:
Về Việc Ban Hành Luật Pháp