Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2009

CAO ĐÀI XUẤT THẾ

ĐẠI ĐẠO KHAI SINH CHÍNH THỨC VÀO NGÀY RẰM THÁNG 10 NĂM 1926 TẠI CHÙA GÒ KÉN (THIỀN LÂM TỰ)

ĐẦU THẾ KỈ xx THẾ GIỚI BIẾN VÀO CƠN ĐẠI LOẠN !

SÔNG MÁU NÚI XƯƠNG TRỞ VỀ CÙNG NGUYÊN THUỶ ! ĐỨC THƯỢNG ĐẾ VÌ TÌNH THƯƠNG LẦN NỮA ĐÃ ĐEM NỀN ĐẠO KÌ BA ĐẾN VỚI NHÂN LOẠI VỚI DANH XƯNG MỚI CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO TAM KÌ PHỔ ĐỘ



Hai Mươi Hai điều dạy cẩm nang lành

Tu Đạo noi theo vững bước chân

Thần,Thánh,Tiên,Phò đều mở cửa

Đợi Bầu đợi Bạn vững sang chân.

CẨM NANG HÀNH ĐẠO

1.Sự thương yêu là chìa khoá mở cửa Bạch Ngọc Kinh

2.Hoà thuận là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng

3.Đức tin là cần yếu cho sự đắc đạo

4.Khổ hạnh là nấc thang bước khỏi chốn luân hồi.

5.Tâm trung chánh làm trụ cốt cho Tiên Thánh.

6.Thiên vị là của báu vô giá

7.Trong Đạo không phân sang hèn

8.Đạo không phải giữ bằng lỗ miệng

9.Lương tâm để răn tội lỗi riêng của mình

10.Không biết Đạo là không phải Người

11.Sự dối trá trái nghịch là của tà quá

i12.Phải tu hành mới thoát nạn tai

13.Được Thiên phong mà không biết tự lập là không bổ ích

14.Muốn Đắc Đạo là phải phổ độ chúng sanh

15.Được Thầy un đức phải dìu dắt chúng sanh

16.Phải thương hại cho kẻ nghịch chớ không nên cừu hờn

17.Lo Đạo bao nhiêu thì đường về Thầy bước đặng bấy nhiêu

18.Phải tự lập lấy mình chớ Thầy không bồng ẩm lên được

19.Nếu hạnh Đạo hoàn toàn thì muôn điều khó cũng tan như giá

20.Phải chung tâm hiệp trí bước Đạo mới được vững vàng.

22.Đạo đã lập thành gương sáng lên trên thói tà chìm xuống./.


LỜI PHÁN CỦA ĐỨC GIÁO TÔNG TRONG ĐÀN LẬP CƠ TÁI TẠO !
Ngày mùng 8 tháng 4,năm 1938 (Mậu Dần)
Vạn vật chúng sanh và cả Nhơn vật trong bầu võ trụ nầy,kể từ đây sẽ nhờ Đạo Pháp của Ta ban truyền do nơi mang lịnh của Đức Chí Tôn,sẽ đựoc tấn hoa thêm mau cho đến tận thiện tận mỹ.
Người thì đến bực trong sạch,hoàn toàn,được dứt hết dây oan nghiệt buộc ràng mà thoát khỏi chốn mê đài,đoạt đến ngôi Thiên phẩm Thánh.Kẻ dữ sẽ trở nên hiền,đời tranh đấu lực quyền sẽ đổi ra đời Thánh Đức Phúc Hậu.
Ấy là Ngươn Trận Diệt hoá ra Ngươn Tái Tạo vậy.
Hữu Hạnh Thay !
Vui Thay !
Lành Thay !
Xuân đến rồi xuân đi,hè về tháng 5 đã đến,lòng tôi xao xuyến băn khoâng vừa vui,vừa buồn đã đến ngày sanh nhựt ĐỨC GIÁO TÔNG NGUYỄN NGỌC TƯƠNG lòng rộn ràng niềm vui.Và cũng là ngày mang nỗi buồn miên man của Người Cha thân thương đã qua đời (Vào ngày 25/5/1989 cách nay tròn 18 năm)
Trái đất xây tròn,thời gian cứ êm đềm trôi qua nay nhớ lại những ngày tôi lên tám lên mười,tôi thường theo cha tôi về Hội Thánh để dự lễ Sinh Nhựt của Đức Ngài.Lúc đó tôi chưa hiểu nhiều về nền Đạo Cao Đài,ý nghĩa của ngày Lễ Sanh Nhựt đó.Và tôi đã lần bước theo cha tôi tìm học hỏi,tôi mới biết và hiểu rằng cha tôi đi theo con đường hành đạo của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương.Người đã đem đức tin nơi Thầy,nơi Đạo đã xả thân hành Đạo hy sinh cả vật chất lẫn tinh thần đem tình yêu thương đến nhân sinh bá tánh.Từ bi,Bác Ái dìu dắt nhơn sanh học Đạo trao dồi đức hạnh,làm công quả âm chất hành thiện.Là một môn đệ của Đấng Chí Tôn phải noi theo sự hướng dẫn của Ngài,phải làm theo và noi gương sáng.
Cứ mỗi mùa sinh nhựt của Đức Giáo Tông là như nhắc nhở tôi phải làm việc gì đó để hiến dâng công đức lên Ngài.Và tôi càng không thể quên hình ảnh người Cha kính yêu của tôi,cả cuộc đời đả tảo tần nuôi tôi khôn lớn nên người,ngày cháu rau hai bữa đi làm công quả,cuối cùng hiến thân trọn đời cho Đạo,hằng mong một ngày nào đó Cha tôi theo chân Đức Giáo Tông về cùng Thầy.Và sự thật đã đến,ngày 25/5 năm Mùi 1989 Cha tôi đã trút hơi thở cuối cùng.Trước khi đi,Cha tôi muốn nói với tôi nhiều điều nhưng cổ họng ông đã cứng chỉ thì thào được vài tiếng,Cha hỏi tôi rằng :”Hôm nay là ngày hai lăm tháng năm phải không con”nước mắt tôi chảy dài và ngẹn ngào,dạ phải.Thế là cha tôi đã xa tôi thật rồi,về với Đức Giáo Tông người Anh Cả đã dắt dìu đàn em trong đó có Cha và tôi,sau này và mãi mãi.Và ngày Sinh Nhựt Đức Giáo Tông đã in sâu vào lòng tôi và tâm trí của mọi người tín đồ Đạo Cao Đài Ban Chỉnh ! .Trần Thị Thân
Lời Dạy cần yếu Của Đức Giáo Tông
Nền Đại Đạo đã lập thành.Mỗi vị chức sắc lưỡng phái nhứt là mấy vị có trách nhiệm trọng yếu,phải giữ gìn hạnh phúc cho hoàn toàn phải giữ tâm từ thiện khiêm cung,thanh liêm thành chánh,đị độ khoan dung,phải giữ lòng thương yêu hòa thuận,sốt sắng,siêng năng,giúp đỡ dắt dìu mà đối đãi với hết thảy mọi người,phải làm nên gương lành,gương tốt,tỏ rạng cho đoàn em bắt chuoc noi theo .
Nghiêm Cấm từ đây không cho một ai ở trong Thánh Thất được giễu cợt,kích bát hờn giận nói hành.Cấm không cho cãi lẫy lớn tiếng,bỏ giọng cay chua,buôn lời thô lỗ mà dẫn lối cho tà quái xâm vào .
Nếu bất tuân phạm cấm,sẽ bị hành phạt nhãn tiền.
Ước mong sao cho các em Nam,Nữ giữ tròn hạnh đức,qua khỏi chuoc tà,mà thọ hưởng nhiều ân huệ của Thầy ban bố sau này .
May Thay !Lành Thay !Bến Tre,ngày 22 tháng giêng năm Mậu Dần (1938)

SỰ TÍCH BẠCH VÂN ĐIỆN
Núi Bạch Vân tôi dừng chân lại
Chưa một lần đến tại nơi đây
Nhìn xem non nước nơi nầy
Thiên nhiên cảnh đẹp vui vầy biết bao.
Di tích ngàn thu cảnh Vũng Tàu
Bạch Vân Long Hải đẹp làm sao
Muôn năm bia tạc Người Anh Cả !
Kỷ niệm hành thiền trên đỉnh cao……….!

BÀI VIẾT

Nhìn vào trang sử Đạo sau nhiều năm có biết bao sự kiện thiêng liêng được ghi nhận như điểm son mà mỗi tín hữu Đạo Cao Đài hằng tâm niệm.Từ núi Dương Đông nơi phát tích mối Đạo miền Hà Tây,Phú Quốc đến Cầu Kho,Chợ Lớn,Sài Gòn rồi đến Chùa Gò Kén Tây Ninh,Vĩnh Nguyên Tự Cần Giuộc,……Trong đó có di tích núi Kì Vân nơi Anh Cả Nguyễn Ngọc Tương buổi sinh thời chọn làm chốn hành thiền khai cơ Chỉnh Đạo.Với Bạch Vân Am ngày xưa nay là Bạch Vân Điện đã được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho phép dựng bia lưu niệm để nhớ về di tích của một Bậc Đại Chân Tu.Điều đó đã tạo ra một điều rất sâu sắc đối với nền Đạo và đường lối hành Đạo của Người.
Bạch Vân Điện đã đi vào lịch sử Đạo như một huyển thoại rất lạ!Núi Kì Vân có tự bao giờ thì chưa ai rõ.Một dãy núi sừng sững nhìn ra biển với vườn anh đào rực rỡ ngày xuân trong thật đẹp.Nơi đây Anh Cả thường ra ngắm biển sao khi rảnh việc công đường.Bãi đá ngoạn mục nầy hấp dẫn biết bao du khách cả Đạo lẫn Đời.Trên dãy núi có một ngọn vời vợi trong đó có Bạch Vân Điện lông gió nằm ở vị trí thanh khiết nhất.Từ xa nhìn như một chiếc Pháp Thuyền đang lứot dòng Ngân Giang và hướng ra khơi trong lễ nhiệm mầu đang chở trằm muôn khách Đạo trong những ngày lễ hội.Nhìn ngọn Kỳ Vân khiến ta bất giác nhớ lại lời dạy của Thầy ngày trước
“Thuyền Khơi đợi gió lứot dòng Ngân
Dẫn khách Nam qua khỏi bến trần
Nhuộm áo nâu sòng về cực lạc,
Trau gươm trí huệ phủi đai căn”
Anh Cả đã đến với núi Kỳ Vân trong tâm trạng như vậy.Viết đôi nét về Bạch Vân Điện thiêng liêng nầy nhằm làm sáng tỏ bước hành trình của Người dìu đàng đáng kính hầu giúp cho các vị Đạo tâm có một ít tư liệu để tham khảo cuộc đời của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương trong những tháng ngày ẩn tu có biết bao huyền thoại kỳ diệu đối với trang sử Đạo buổi đầu.
Trong những năm làm Quận Trường ở Quận Xuyên mộc người nhân lúc rảnh rỗi thường lên đây để tịnh dưỡng.Nơi đây người tỏ ra là vị quan mẫn cán lại luôn hướng về Chơn Lý Đạo.Hằng ngày Người trạm trú ở một ngôi Đình trên vùng đất đỏ và Người cất một cái am ở Núi Kỳ Vân định khi nghỉ hưu lên đó thiền định.Nhân đây Người thấy người dân làng Phước Hải và Long Hải cách nhau một khu rừng đi lại khó khăn nên Người cho mở con đường để tạo cho mỗi giao thông ở hai nơi thuận lợi hơn.Công việc đang tiến hành thì ở Tây Ninh có vụ rắc rối…….Sự việc không ổn thoả nên các vị Chức Sắc Toà Thánh ra mời Người về lo sắp xếp,giải quyết.Sự việc không được ổn thoả Người liền đưa đơn xin nghỉ việc Quan theo lời dạy của Thầy để lo trọn về phần Đạo.Tháng 5/1931 Nguời đựoc phép nghỉ việc là về ngay Toà Thánh giải quyết,mọi việc được tạm ổn định.Nhắc lại,sau khi Người về Toà Thánh được đức Quyền Giáo Tông làm một lá đơn giao cho quan Thống Đốc Nam Kỳ nói rõ việc giao trách nhiệm cầm giềng mối Đạo Nhơn Sanh lại cho Người.Người ra thơ tiếp nhận và cũng làm một lá đơn cho quan Thống Đốc Nam Kỳ biết.Kế tiếp người ra Châu Tri số 01 để nói rõ việc Đạo lúc bấy giờ.Việc Đạo đang thuận tiến thì sức khoẻ của Người càng ngày càng suy yếu cộng với những mâu thuẫn mới phát sinh càng ngày càng gay gắt nên Người xin ra Bạch Vân Am để tịnh dưõng.Chỉ ba tuần sau thì các Chức Sắc Toà Thánh ra Châu Tri công bố Người bỏ việc và cho niêm cửa nơi làm việc của Người và dở nhà làm việc của Ngài Ngọc Trang Thanh.Trước tình cảnh đó Người đành gạt nước mắt trở lại Bạch Vân Am định ẩn tu đến trọn đời.
Khi làm Quan hay Chức Sắc của Đạo Người đều tận tuỵ lo cho Đạo trong điều kiện của cuộc sống.Riêng ở Quận Xuyên Mộc-một Quận hẻo lánh nên Người hết lòng chăm lo dân và được dân thương mến.Cũng như lúc trước khi làm quan ở Quận Hòn Chông do Người làm việc rất mẫn cán nên được cấp 50 mẫu đất nhưng Người để cho nhân dân canh tác.Đi đến đâu người cũng phát triển đường sá,kinh tế,….và nêu cao tấm gương liêm khiết nên khi trừ quan đặng đi Tu,quan chủ tỉnh rất trân trọng và thương tiết phải mất một vị Quan Thanh Liêm,Mẫn Cán như Người.Việc Quan ở Quận Xuyên Mộc được hanh thông nên cấp trên ưu tiên cho Người 20 mẫu đất gần bãi biển để cất nhà mát,nhưng Người không nhân và chỉ xin khu đất ở Bạch Vân Điện nơi núi Kỳ Vân để làm nơi tu dưỡng thôi.Khi làm việc ở Toà Thánh thỉnh thoảng Người cũng ra đó Thiền Định.Lần bị sốt rét Bác Sĩ khuyên Người tìm nơi có gió dưỡng bịnh,vậy là Người chọn Bạch Vân Am.Nơi đây khi xưa có suối Ngọc Tuyền nước ngọt và chỉ có một ngôi Chùa Phật ở dưới chân núi mà thôi.Ngưòi xây dựng một cái Am trên núi Kỳ Vân làm nơi Hành Thiền Luyện Đạo.Những nơi Người đi qua đều để lại cho Người dân nhiều ấn tượng tốt đẹp chẳng hạn như Người sử vụ kiện chàng rễ vắng mặt trong Ngày Cưới thành công khiến gia đình sum họp.Sau giờ làm việc là Người đi khai đàn đàn phổ độ,số người nhập môn rất đông.Có lần Người mượn Đình Thần Mỹ Lộc để khai Đàn nhập môn cho trên 300 vị và Thần Hoàng cũng về cơ dạy sau này phải cúng hoa,quả cho đến ngày nay tạo thành một phong tục rất đẹp không một miếng tanh hôi trong ngày Lễ Thần Hoàng.Trong khi ở Cần Giuộc người lập ra nhiều Thánh Thất hầu hết mỗi xã đều có mỗi Thánh Thất và với số tín đồ rất đông.Chánh Phủ Pháp lo ngại cho nên đổi người ra Quận Xuyên Mộc,tại đây Người lập Thánh Thất Hội Mỹ,Long Tân cùng với bao giai thoại về đức độ từ lành của Người như:Cho Cọp uống nước khi nắng hạn,giúp người thuyền chài đẩy ghe,…..Khi Người về Toà Thánh thì đựơc nhân dân vùng Thánh Địa hết sức yêu mến,và ca ngợi.
Đặc biệt người về Toà Thánh hành Đạo năm 1931 cơ Đạo chinh nghiêng,Người tích cực thu xếp lại.Phần lo về vật chất,phần lo về Tinh Thần ngay việc Phòng Trù cũng đựoc tổ chức chu đáo với tinh thần Tiết Kiệm Đúng Mực.Ngưòi còn cho lập cơ sở để trồng tỉa đến mức rau cải có dư bán làm ngân quỹ chi dụng cho Đạo (Trứơc đó Ngaì Lê Bá Trang đã ra Châu Tri kiu gọi các Họ Đạo tích cực đóng góp Lương Thực về cho Toà Thánh để mà sử dụng cho phần ăn uống của các vị công quả của Đạo.)
Như vậy từ Bạch Vân Am Người lập năm 1927 đến năm 1934 đã đán dấu một đoạn đường hành đạo đầy ý nghĩa.Chính nơi đây Người tiếp nhiều phái đoàn nhơn sanh đến viếng khi hay người bị trục xuất.Người được nhơn sanh yêu cầu xuống núi lập Ban Chỉnh Đạo nếu không bổn đạo sẽ hông tùng Toà Thánh nữa.Đứng trước tình hình ấy Người đựoc Ơn Trên chỉ dạy về Bến Tre lập Ban Chỉnh Đạo qua bài Thánh Thi sau
“Trau báu đề tin có núi sông
Ôm lòng chờ trẻ lệ tuôn hồng
Năm xa năm cách năm hoà hiệp
Chừng ấy bay khôn mới Đại Đồng
Hình thể Thánh Danh nên nghiệp Cả
Bắc Nam đi tận Đạo nhà Thông
Nghe cơ hồi hướng về Thành Trước
Thầy dặn con ghi nhớ cõi lòng “
Như vậy chính Bạch Vân Am này Nguời đã vạch ra con Thuyền Đạo một hướng đi đúng đắn.Chơn Lý Đạo qua sự dẫn Đạo của Người đã tùng bước được sáng tỏ theo thời gian.
Năm 1927 khi Người ra làm Quận Trưởng Xuyên Mộc thì Am Bạch Vân đã được dựng lên.Khi Người về Bến Tre hành Đạo thì Bạch Vân Am vẫn được bổn Đạo tiếp tục gìn giữ bảo quản.Qua hai thời kỳ chiến tranh Bạch Vân Am chỉ còn lại đông đá vụn nhưng dấu xưa vẫn còn lại di tích của bậc chơn tu.Một vài năm trước Hội Thánh và nhơn sanh đã xin tu tạo lại Ngôi Bạch Vân Điện,và đã hoàn thiện năm Đạo thứ 72.Và tiếp tục hoàn thiện với mỗi tấm lòng của mỗi vị Nhân Sanh đối với ngôi Điện Thiêng-Liêng này.
Khi Người viên tịch Ngôi Bạch Vân Am đã được đổi tên thành Bạch Vân Điện làm nơi thờ Đức Chí Tôn và đồng thời là nơi lưu giữ di tích của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương lúc sinh thời.Ngày nay giữa sự mất mát và hiện tại gốc vú sửa,hàng râm bụt,….và bàn cờ tướng bên vách núi ghi dấu thời gian lớn lên của Ngôi Điện cùng với đức tin của toàn Đạo đối với di tích Thiêng Liêng này.Hình ảnh Anh Cả kính yêu của chúng em,Đức Giáo Tông vẫn còn đây.
Đời là trường học của con Người,bởi Người do Đại Từ Phụ cho sa xuống trần đặng học sự lỗi lầm cho rành rẻ,học những sự lành,sự phải rồi trở lại độ chúng sanh.Bởi học làm tội lỗi,nên mới thấy lỗi của chúng sanh mà độ.
Làm cho xong bổn phận rồi trở về Phẩm Vị của mình.Phải tu hành lập công bồi đức mới về đặng.
Thí dụ như mình lảnh làm công việc cho người ta,người ta sai mình phải làm việc chi đó,xong xả rồi mới trở về thưa lại chủ hay.
Cuộc đời giả tạm không bền bĩ là ở thế gian nầy.Sang hèn,quyền cao tước trọng,tiền của đầy kho,ruộng vườn chật đất,chừng chết cũng nắm hai bàn tay không,đó là cuộc đời giả tạm không bền bỉ,nên trong thánh thi có bài như vầy:
“Khán đắc phù sanh nhứt thế không
Điền viên sản nghiệp việc giai không
Thê nhi phụ mẫu chung ly biệt
Phú quí công danh tổng thị không
Tổ ngữ vạn ban đô thị giả
Kiêm ngôn bách kế nhứt trường không
Tiền tài thâu nhập đa tân khổ
Lộ nhượng huỳnh tiền hưởng thủ không”
Đưa Kim Thân Đức Ngài vào Liên Đài xong,đúng 12 giờ khuya thời TÝ rạng 21/5/Tân Mão 1951.Hội Thánh đưa Liên Đài Đức Giáo Tông về Đại Đồng Xã trước Thiên Phong Đường.
“ÔI!Trời An Hội đổi thay mấy độ !
Rước Chơn Linh Giáo Chủ siêu thăng !
Đất Bến Tre bồi lỡ biết bao lần
Nơi Bạch Ngọc Trưởng Huynh an tọa !
Đây là thời khác sanh tử !
Đây là khoảnh khắc vĩnh hằng !
Thương thay ! Kính Thay ! (hội thánh Minh Chơn Lý )
TUYÊN CÁO
“Hội Thánh xin có lời tuyên cáo cho toàn thể Đạo Hữu hay biết tận tường,về tin Đức Giáo Tông chúng ta tịch diệt.
Hội Thánh tưởng chư hiền hữu,ai ai cũng tin tưởng rằng Đức Giáo Tông sẽ còn lưu lại với chúng ta,trong thiên vụ cầm đuốc dìu đàng cho nhơn loại đến ngày thế cuộc thăng bình,vì chính nguyện vọng của ngài,lập trường của Ngài đã cho phép chúng ta tin tưởng như thế.
Nhưng thử ngoảnh cổ lại,các Đấng Giáo Chủ Tam Giáo,nào cá Ngài có giữ mãi xác thân để mà dìu dẫn bao nhiêu môn đồ đến mấy chục thể kỷ đâu!Thế mà các nền Tôn Giáo lớn nhứt trong năm Châu vẫn tồn tại mãi nơi lòng tin tưởng của bao nhiêu vạn triệu tín đồ.Đó là lẽ dĩ nhiên vì chỉ có tinh thần siêu việt,Giáo Lý cao thâm của các Ngài nó mới đem lại cho nhơn sanh nhiều cứu rỗi,nhiều an ủi,nhiều vẻ vang sáng lạng cho cuộc đời,nên đời mới hinh hương sùng tín.Chớ xác thân của các Ngài người đời nào có dùng làm lợi ích chi cho cõi sống.Nên chắc chắn là trong đời không ai còn hoài tiếc thân xác của các Ngài,sao ngày nay không còn tồn tại.
Vậy với Đức Giáo Tông chúng ta,quả thật Ngài không có độ rỗi cúng ta bằng thuật pháp,bằng trường sanh bất tử.Ngài chỉ cảm lòng chúng ta bằng đức cả,bằng bao nhiêu giáo lý chân chính sáng suốt.Nó kết tập thành một lập trường sống,cho chúng ta sống trong khuôn khổ xã hội đại đồng.Chính Ngài đã vạch sẵn cho chúng ta con đường thuận đà tiến hoá,con đường giải thoát tất cả các nghiệp chướng của đời mạt pháp trong thế kỷ 20 nầy.
Ngày nay,chúng tôi tưởng với cái xác thân bảy mươi của Ngài,nó khó lòng mà phụng sự cho tinh thần Ngài,với sự hy sinh tận tuỵ cho cõi đời nầy nữa.Biết thế,nhưng với lòng thương nhơn loại,Ngài đã tự đem mình hãm vào vòng Đại Tịnh từ ngoài chín năm nay,để điều dưỡng xác thân,để gội rửa tinh thần,để đủ huyền năng mà nắm vững tay lái con thuyền Đạo,đang chở hằng triệu nhơn sanh trong cơn bão tố của cuộc đời.
Chư Hiền Hữu
Kể từ giờ phút nầy,chúng ta hẳn phải sống hoàn toàn với lòng tin tưởng mới.Chúng ta phải dội rửa cho sạch những ý nghĩ rằng lúc nào bên chúng ta cũng có Người Anh Cả để nâng đỡ dắt dìu.Chúng ta phải tin tưởng rằng:Đức Giáo Tông Người Anh Cả duy nhứt của chúng ta,hiện thời đã sống trong cõi Thiên,và tinh thần Ngài sống vĩnh cửu nơi lòng chúng ta.
Từ đây trên đường Đạo bơ vơ,Ngài đã cho chúng ta một tình đoàn kết chặt chẽ.Và chúng ta phải có bổn phận phụng sự Ngài bằng cách làm sống thêm nền Đạo Cả,tức là làm sáng lạng danh Đạo của Ngài.
Chúng ta phải nén tình thương yêu nhỏ hẹp,ra làm lòng trung tín tuyệt vời;chúng ta trung thành với chí hướng của Ngài,với muôn ngàn lời giáo hoá châu ngọc của Ngài.Tinh thần Ngài sống mạnh trong mỗi cõi lòng chúng ta.Chúng ta phải noi gưong Ngài,lấy hơi thở cuối cùng làm giới hạng cho cuộc đời hành Đạo.
Từ ngày nay,chúng ta bài trừ tất cả những do dự mơ hồ,để lòng tin tưởng,được tự do,hầu đón tiếp tinh thần Ngài với muôn ngàng sáng lạng.
Không có một lễ vật nào long trọng hơn đối với Ngài,ma chỉ có lòng tin tưởng,đức hy sinh của chúng ta sẽ mở rộng đường Đạo do Ngài dẫn dắt,ngày càng thêm rộng lớn.Chúng ta thương yêu tin cậy nhau hơn,hợp thành một khối,như thế là chúng ta đã biết cho Ngài một lễ vô cùng long trọng đó.
Vậy đây là Lễ đưa Ngài về cùng Thầy tức là đưa tinh thần sự nghiệp đạo đức của Ngài vào lòng mỗi người,để làm phương cứu rỗi khỏi cùng nghiệp chướng,trong hiễm hoạ của thế cuộc ngày nay.
Thay mặt Hội Thánh,chúng tôi xin có mấy lời tuyên cáo cùng chư hiền hữu
THAY MẶT HỘI THÁNH
CHIẾC QUẠT GIẤY VÀ CHIẾC QUẠT MO/”Khá Tiết Kiệm Hằng Ngày No Đủ”
Mùa hè ôi bức,nắng chang chang,trên lầu Thiên Lý bốn mét vuông,Đức Ông mồ hôi nhỏ ròng,lau mãi ướt cả chiếc khăn lông vải ta vá nhiều chỗ,tôi nhìn ông thật khổ hạnh giam mình trong phòng để thọ hành Tân Pháp nhiệm mầu độ rỗi nhơn sanh.Có người tắm ngày ba,bốn lần vẫn còn nóng nực.Đức Ông tắm một tháng có bốn ngày !……thử hỏi người thường như chúng ta làm sao chịu nổi thế mà đã hơn năm năm dài.Đức Ông chịu đựng cầu nguyện cho bá tánh thoát khỏi tai nạn.Tôi vô cùng chua xót thân phận Đức Ông nếu không vì sanh chúng.
Tôi quày quả trở xuống lầu,ra quán mua một chiếc quạt giấy một xu đem lên dâng Đức Ông quạt cho đỡ nóng.
Đức Ông nói:
-Rất cám ơn em lo cho Ông,nhưng ông chưa mượn,thay vì mua,em qua Nhà Tu Thượng Thừa lượm chiếc mo nan cắt tròn cho Ông quạt cũng được,việc không cần thiết nên tiện tặn,dành tiền lo việc có ích cho nhơn sanh.(Chỉ một xu thôi mà ông còn bảo như thế,chúng ta thử nghĩ ?) vã lại xác thân con người trần trược mồ hôi ra nhiều là bớt trược,sá gì chuyện nhỏ đó em.
Hèn gì,khi xuống lịnh cho Anh Lớn Ngọc Chánh Phối Sư,Đức Ông viết bằng phía sau nhãn nhang thơm,một sự tiết kiệm nhỏ nhặt nhưng quá vĩ đại bao la.Có mấy ai làm được ?…..
Tôi đứng lặng Yên !…..không phải khóc mà nước mắt tuôn tràn.Ôi ! Cao cả thay ! Vĩ đại thay tư tưởng !…của Đức Giáo Tông.
@ THANH ĐỒNG LÊ VĂN SÁU
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
3E AMNISTIE DE DIEU EN ORIENT
NO:202 Bouddhisme - Rénové
Tây Ninh,le 4 juillet 1931
Amoonsicur le Gouverneur de la Cochinchine (Saigon)
Monsieur le Gouverneur,
Jai Phonnerur de vous faire connaitre qu’à partir de cc jour M NGUYỄN NGỌC TƯƠNG est chargéde la direetive du CAO-DAISME ou bouddhisme rénové ayant poru but de moraliser les peuples de lerur qpprendrèa pratiquer les vertus et à puri-fier I’âme.M NGUYỄN NGỌC TƯƠNG est chargé d’entrete nir des relations avec le Gouvernement en cc qui conccrnc le Caodaisme ou Bouddhisme re’nove’
Veuillez agréer,Monsicur le Gouverur,I’assurance de mes sentiments respectucux et de’vouc’s.
Signé:Lê Văn Trung.

Xin tạm dịnh bức thơ nầy ra Tiếng Việt như dưới đây.
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Số:202 Tây Ninh,ngày 4 tháng 7 năm 1931
Kính gởi:Quan Thống Đốc Nam Kỳ SAIGON.
KÍNH NGÀI !
Tôi hân hạnh cho Ngài hay:kể từ nay ÔNG NGUYỄN NGỌC TƯƠNG đựoc uỷ thác nhiệm vụ cầm giềng mối Đạo Cao Đài,hay Phật Giáo chấn hưng.Mục đích của nền ạo là dạy dân gi74 luân lý,thực hành các đức tánh và trau giồi linh hồn chođược trong sạch.ÔNG NGUYỄN NGỌC TƯƠNG chịu trách nhiệm giao thiệp với Chánh Phủ về mọi vấn đề của Đạo Cao Đài.
Xin Ngài nhậ tấm tình kính trọng và trung thành của tôi.
KÝ TÊN:LÊ VĂN TRUNG
@Tiểu Sử Đức Giáo Tông

UY LỰC HAY ĐỨC ĐỘ CỦA ĐỨC GIÁO TÔNG ???
Một buổi sáng,sau khi Đức Ông điểm tâm xong,tôi vừa xuống thang lầu,bổng nghe một tràng tiếng Pháp,hướng tới chân thang lầu lại nghe Tiếng Việt nói:
-Ông Quan ư ?
-Xin phép được Yết Kiến Đức Giáo Tông,đó là tiếng nói mà người thông dịch
Ông Giáo Sư Phó Quản Lý Tịnh Xá trả lời:
-Đức Ông trong thời kỳ đại tịnh không tiếp xúc ai dù cho chức sắc Hội Thánh cũng thế vì đã có lịnh truyền.
Người thông dịch nói lại với tên quan tư mặc quân phục đàng hoàng người Pháp.Tên quan tư Tây đứng lên nói,người thông dịch nói lại:
-Vẫn biết Đức Giáo Tông đang đại tịnh,chỉ xin thấy Ngài một chút thôi không dám quấy rầy.
Tôi bước ra cửa,ông Phó Quản Lý thuật lại lời người thông dịch,người thông dịch đứng lên lập lại lời tên quan tư Pháp.
Tôi nói việc nầy để tôi trình lại Đức Giáo Tông biết,coi ngài có cho phép hay không ?Người thông dịch trả lời với tên quan tư,ông ấy gật đầu.
Tôi trở lên lầu,bạch Đức Ông sự việc,Đức Ông nói:
-Em lấy cho Ông tờ giấy trắng,cây viết chì và gái gối để kê viết,em trở xuống dẫn tên quan tư lên,chỉ một người thôi và em đứng bên ông.
Tôi trở xuống nói với Người thông dịch rằng:
-Vì phép lịch sự nên,Đức Giáo Tông cho phép ông quan tư lên nhìn thấy Đức Gíao Tông rồi trở xuống chớ Ngài không được phép tiếp chuyện.
Người thông dịch nói lại với tên quan tư,ông ấy gật đầu.Tôi quay qua dẫn ông quan tư đến thang lầu ra dấu cởi giày,tên quan tư đến trước mặt”Ngài”cung kính xá ba xá.Bỗng nhiên tên quan tư phát sợ,run lên cầm cập,mặt mày xanh mét,tôi lấy làm lạ,không biết tại sao?Hồi nãy,dưới nhà cầu trông oai vệ lắm sao bây giờ lại run en phát rét ?
Đức Ông lấy tờ giấy,để trên gối viết mấy chữ:”Tôi còn đang trong đại tịnh không được phép tiếp ông,xin chúc sức khoẻ ông”.
Tôi cầm tờ giấy,đưa tên quan tư đọc qua,không biết ông ta có đọc được không ?Tay run run xá Ngài ba xá như lúc mới lên lầu,vội vàng bước xuống lầu,từ lúc lên lầu đến lúc xuống không đầy năm phút.
Tại sao tên Quan Tư lại khiếp sọ Đức Giáo Tông đến phát run?Hay là chư Thần ám trợ Đức Giáo Tông
Chỉ có quyền lục thiêng liêng nên tên quan tư mới kiếp sợ như vậy chăng ?
@THANH ĐỒNG LÊ VĂN SÁU
Tác Giả: Nguyễn Trường
Giặt xong bộ quần áo loang lổ máu tươi cho anh Pho, Bình trở lên nhà trên đốt nhang cắm lên bàn thờ ngôi chánh điện. Phía trên cao, thánh tượng Thiên nhãn đang toả ánh hào quang chiếu xuống hạ giới. Ôi sao bàn thờ lại phủ đầy bụi thế này? Bình lấy khăn tay lau sạch các thánh tượng. Hàng trên cao, ở ngôi tam giáo, Phật Thích Ca ngồi giữa Thái Thượng Lão Quân và Khổng Tử. Hàng tam trấn, Lý Thái Bạch ngồi cạnh Quan Âm Bồ Tát và Đức Thánh Quan. Hàng thánh có chúa Giêsu và hàng thần đạo có Khương Tử Nha. Ngồi riêng trên bàn ngoài cùng là Giáo chủ Cao Đài ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương. Ngài ngự trên bệ rồng, một tay để lên mắt làm phép. Trận bom do không quân Mỹ dội xuống sáng nay phá tan nát một phần phố Huế, làm rung chuyển cả thánh thất Cao Đài nằm ở phố Hoà Mã cách đó chừng năm trăm mét. Vôi vữa vung vãi. Cánh cửa sổ cũng bị bật tung, kính rạn nứt thành hình chân chim. Vừa lau bàn thờ Bình vừa lẩm bẩm: “Khổ! Đến các vị thần thánh cũng không được yên ổn nữa huống chi người”. Nhiều năm về sau, khi thánh thất Cao Đài được xây dựng nguy nga hơn, lầu chuông, lầu trống cao vòi vọi, Bình vẫn không quên trận ném bom xuống phố Huế, bởi từ đây cuộc đời cô đã lật sang trang mới. Đó là buổi sáng cuối năm 1967, Bình đang lên lớp. Mấy chục cặp mắt non thơ đang nuốt từng lời giảng của cô, chợt còi báo động rú lên thất thanh giục giã mọi người vội vã xuống hầm trú ẩn. Các em học sinh vơ lấy mũ rơm, túi cứu thương, ào ào chạy dọc theo giao thông hào, rẽ vào các khu hầm Cồn Cỏ rải rác quanh trường. Vừa lúc ấy tiếng máy bay gầm rít trên đầu. Tiếng súng phòng không các cỡ của ta hình như ở rất gần, nổ như bắp rang. Tiếng rít xoèn xoẹt của máy bay lao xuống thấp cùng với tiếng bom ầm ầm từng đợt nhức tai, lộng óc đến nghẹt thở, căn hầm của các em rung lên bần bật. Một thoáng lặng im chen ngang đầy chết chóc. Bình chui ra khỏi hầm, nhìn về hướng nội ô. Phía ấy từng cột khói bốc lên đen đặc bầu trời. Tiếng còi xe cứu thương, tiếng rú của các loại xe hơi đang phóng hết tốc lực chạy vào trung tâm thành phố. Bình thấy lòng bồn chồn thấp thỏm. Cầu mong bom không rơi vào thánh thất của cô. Cầu mong Đức Hoàng Thượng Đế phù hộ cho anh ấy! Anh Pho là người Bến Tre được Giáo chủ Nguyễn Ngọc Tương cử ra mở mang mối đạo Cao Đài ban chỉnh ở đất Bắc. Anh hiểu người miền Bắc, có uy tín với đạo hữu, có khả năng giữ giềng mối của đạo. Nếu anh có bề gì sẽ tổn thất to lớn cho nền đạo. Hình như giữa anh và cô có sợi dây ràng buộc làm cô luôn nghĩ về anh, một tình cảm, vừa thiêng liêng vừa gần gũi, có lẽ nó có từ ngày cô còn nằm trong bụng mẹ, từ ngày cô trở thành thiếu nữ và từ ngày cô bỗng mơ thấy Thiên nhãn…. Bình vội chạy ra cổng ngẩng lên, hướng về phía thánh thất, cô khấn: - Lạy chư thần, lạy đức giáo tông! Anh con có việc gì không? Nếu anh con có việc gì chư thần hãy cho con nóng ruột để con biết mà về với anh con. Cô thấy người bình tĩnh trở lại. An tâm, cô nói với chính mình “Chắc anh Pho không sao cả. Mình phải ở lại đây dạy hết mấy tiết học rồi về”. Từ ngày trường của cô sơ tán ra ngoại thành, dù phải đi về hơn hai chục cây số cô cũng không bao giờ đi dạy muộn, hoặc bỏ tiết dạy. Ba giờ chiều Bình mới xong nhiệm vụ. Cô vội nhảy lên xe đạp phóng như bay về nhà. Con đường từ Thanh Trì về nội ô lổn ngổn ổ gà, hố bom. Từng đoàn xe vận tải, xe kéo pháo cài kín lá nguỵ trang ầm ầm chạy ngược chiều. Chuyến tàu liên vận cũng chở toàn đồ quân sự phủ bạt kín mít, lao rầm rầm trên đường ray hướng về phía Nam. Đường phố thưa người. Dân Hà Nội đã sơ tán ra ngoại thành, về nông thôn gần hết. Lẽ ra anh Pho của cô cũng phải đi sơ tán, nhưng anh đang là Uỷ viên Hội đồng nhân dân kiêm Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ quận Hai Bà. Công việc đòi hỏi anh phải bám đường phố. Đến lúc này người tu hành cũng không an tâm ngồi trong thánh thất với các bức tượng. Không khí chiến tranh đã cuốn mọi người vào vòng xoáy của nó. Một đoạn phố Huế với những ngôi nhà khiêm nhường quen thuộc núp mình dưới bóng cây xanh đã bị bom xới tung lên, chẳng còn hình dạng làm Bình không nhận ra nó nữa. Gạch ngói vung vãi, cây cối cháy sém bật gốc như vừa qua trận bão. Đôi chỗ khói còn nghi ngút, bốc lên mùi khen khét của hơi bom, của da thịt người lẫn quần áo cháy. Thánh thất của cô vẫn bình yên, trong nắng chiều vàng rơi lung linh trên lầu chuông lầu trống. Cảnh nhốn nháo trong nhà khách như báo cho Bình biết chuyện chẳng lành. Cô Tú, cô Ngô, cô Tuyết… Những y tá, y sĩ, trong Hội Chữ thập đỏ do anh Pho phụ trách. Mọi hôm họ vẫn lấy thánh thất này làm điểm diễn tập cứu thương. Còn hôm nay, họ đứng đó, nét mặt ai cũng lộ vẻ lo lắng, đau thương. Bình nắm lấy tay Tuyết hỏi dồn dập: - Có chuyện gì rồi phải không các cô? - tim cô run run. Tuyết dìu Bình ngồi xuống ghế, rồi nói: - Anh Pho …. Chết rồi… - Sao? - Mắt Bình chợt tối sầm. Giọng Tuyết nấc nghẹn: - Buổi sáng anh Pho đang họp bên phòng Giáo dục được bà Hảo, Phó chủ tịch mời về họp gấp bên Uỷ ban. Anh Pho đi được chừng năm phút thì báo động. Phòng Giáo dục bị bom dội. Thấy tình hình nguy cấp anh ấy vội quay xe lại lao vào cứu nạn. Nhưng lại một đợt bom nữa… Chính anh Pho đã nhường em xuống hầm gần nhất rồi chạy sang một hầm khác cách đó chừng hai mươi mét. Ngừng tiếng bom, còi báo yên, em chạy đến hầm anh Pho, chỗ ấy đã trở thành cái hố bom sâu hoắm rồi. - Cô có chắc thế không? - Bình nói như trong mơ. - Chắc! Chỗ ấy dưới gốc cây sấu, làm sao nhầm được. - Có thấy xác anh ấy không? - Mặt cô đờ đẫn - Không, chắc là tan tành từng mảnh rồi. Bình lắc đầu, giọng cô sắc lạnh như ra lệnh: - Hãy đi tìm anh ấy mau. Anh ấy không thể chết được. Chẳng ai bảo ai, mọi người lao ra các ngả. Bình quay về thánh thất cùng lúc chiếc xe hồng thập tự bám đầy bụi vàng khè đỗ xịch trước cổng. Cánh cửa bật mở và anh Pho nhanh nhẹn bước xuống. Bình chạy ào đến sững sờ. Niềm vui tới bất ngờ làm cô không nói thành lời. Anh Pho không thể chết được. Cô đãâ tin là như thế Kéo anh vào nhà, ấn anh ngồi xuống ghế, Bình ngắm anh và không khỏi kinh ngạc. Trời ơi, đầu tóc anh đầy bụi, một nửa mái đầu bị cháy sém, còn bộ quần áo trên người loang lổ máu. Bình nghẹn ngào: - Anh không bị thương chứ? Anh Pho cười, cái cười đến là hiền hậu: - Làm sao tôi bị thương được. Chỉ vào những vết loang lổ trên quần áo và xoè hai bàn tay cũng đen thẫm những máu, anh nói: - Đó là máu nạn nhân. Hai đứa học sinh của em, cái Hà, cái Thu… - Giọng anh nghẹn lại. Bình ôm lấy ngực rên rỉ: - Sao chúng lại đến đó? - Sáng nay chúng đến coi điểm thi. Tội nghiệp. Sau loạt bom nổ, anh bật nắp hầm chạy lên. Một em bị cụt hai chân, một em bị lòi ruột. Anh vội ẵm các em lên xe cứu thương giục tài xế phóng đi ngay. Nhưng các em bị nặng quá, không cứu được… -Anh Pho ơi, căn hầm của anh trúng một trái bom, anh có biết không? Nếu anh không lao lên ngay lúc ấy thì… Ôi linh thiêng! Em đã cầu mong Người phù hộ cho anh! Đôi mắt cô chợt sáng lên ẩn chứa một sức mạnh thần bí. Lau xong các thánh tượng và bàn thờ ngôi chánh điện, Bình thấy chân tay rã rời. Cơn hụt hẫng, làm cô phải ôm lấy ngực. Trái tim cô đã qua những giờ phút quá căng thẳng nên chứng ngoại thu tâm thất lại xuất hiện. Cô nhắm mắt lại, và Thánh tượng Thiên nhãn lại hiện lên. Những ánh hào quang xuyên qua tầng mây chiếu tràn ngập trong tâm tưởng cô. Hình như Bình lạc vào một thế giới vô cùng huyền diệu… Năm hai mươi tuổi Bình nổi tiếng là cô gái đẹp. Khuôn mặt trái xoan, cái miệng nhỏ, hàm răng trắng đều, đôi mắt tròn, xanh trong như da trời mùa thu, dáng thanh thanh, lại được nước da trắng tươi như bông bưởi, đã từng làm nhiều chàng trai ngơ ngẩn. Nhưng cũng năm đó cô bị một căn bệnh kỳ lạ, chưa một bác sĩ nào chẩn đoán được. Cô đang vui vẻ, nhí nhảnh như một chú chim sâu, bỗng trở nên trầm lặng, ngồi hàng giờ bên bàn, tay lần cuốn kinh không biết nhặt được ở đâu. Và cái bàn thờ do cô dựng nên sơ sài, lon sữa bò cắm mấy cây nhang, nhưng có sự linh thiêng đến đôï không ai dám đến gần, kể cả cha cô. Dưới góc bàn thờ có mảng tường vỡ, mỗi khi cô đốt nhang đọc kinh, hai con bạch xà thò đầu ra, chầu hai bên bàn thờ, cái lưỡi hai nhành cứ đưa qua đưa lại làm mọi người kinh sợ. Một bữa Bình đang ngồi đọc kinh, chợt quay sang hỏi cha: - Ai khóc đó bố? Ông Ngô ngơ ngác, có ai khóc đâu. À, có thể ở bên nhà ông Hàm. Ông ấy ốm cả tháng nay, nghe nói nguy lắm rồi. Nhà ông ấy khá xa, làm sao mà con lại nghe được tiếng khóc? Bán tín bán nghi ông đứng dậy nói với con: - Có thể vợ con ông Hàm khóc. Xăng xái ông chạy sang nhà hàng xóm. Bình cũng tất tả chạy theo cha. Ông Hàm nằm trên giường, người chỉ còn da bọc xương, cái miệng vêu ra, chỉ thấy hai hàm răng vàng khè, hai hõm mắt sâu hoáy, chân tay đã bị liệt, da bầm đen, ông đã chết đến cổ rồi. Vợ con ông đang gào khóc. Bình thấy tội quá. Cô thắp ba cây nhang đến giường ông, vừa đọc kinh vừa huơ cây nhang vẽ thành những đường kỳ bí. Cô nhắm mắt lại, Thiên nhãn hiện ra rực rỡ. Cô hướng ánh sáng chiếu vào người bệnh. Ông Hàm dần dần hồi tỉnh. Mọi người vô cùng kinh ngạc. Ông Ngô nghĩ, có lẽ con mình là người thần thánh nên cho nó đi ở chùa, về với thế giới của các thánh thần. Thánh thần không thể ở chung với người phàm. Ông quyết định đưa Bình vào chùa Quán Sứ, với pháp danh Hiệu Diệu Hoa. Lúc ngồi đồng, cô đội bát nhang nhưng không đảo. Sư thầy nói cô không có căn đi tu vì không chịu trình đồng. Ngồi đồng mà miệng cứ “Ta là con của Đức Hoàng Thượng Đế”. Ôi, con của Đức Hoàng Thượng Đế thời quy y sao được. Đạo nào thờ Đức Hoàng Thượng Đế đây? Đưa con về nhà, đêm ông Ngô mơ thấy một ông già râu tóc bạc phơ, tiên phong đạo cốt. Tiên ông có tiếng rền như sấm: - Ngô, nghe sắc lệnh của Đức Hoàng Thượng Đế. Ông Ngô vội quì xuống. Tiên ông rút trong tay áo ra một tấm lụa trắng, ông Ngô vội đỡ lấy, mở ra chỉ thấy dòng chữ “Nhập môn ngày 12 tháng 12″. Bừng tỉnh, ông Ngô thấy hai tay nắm chặt tấm lụa vô hình, trán ông vã mồ hôi, tim vẫn còn hồi hộp. Chợt nghe tiếng con gái mê sảng ú ớ trong phòng, ông vội chạy sang lay gọi con: - Bình, Bình, con nằm mơ hả? Bình tỉnh dậy, cô nắm tay cha: - Bố ơi, con mơ đến tu ở chùa có cái cổng bằng gỗ sơn màu vàng, lách vô con gặp hai người đàn bà mặc đại tang. Họ đưa con vào chánh điện, vén bức màn lên con thấy các vị Phật giống như trong sách moran đã học. Con sung sướng kêu ầm lên. Ông Ngô kinh ngạc. Quái lạ! Mình và con cùng mơ về một sự việc giống nhau. Không lẽ thần bí là có thật? Sáng, Bình dậy thật sớm, soi gương, chải tóc, mặc chỉnh tề, đến trước cha: - Hôm nay ngày 12 tháng 12, ngày con làm lễ nhập môn. Nhớ đến giấc mơ đêm qua, ông Ngô sởn gai ốc. Bình đi như có ma dẫn. Cô đến phố Hoà Mã và đứng trước một thánh thất. Ông Ngô lại càng bàng hoàng hơn khi mọi việc diễn ra y như con gái đã mô tả. Cũng hai người đàn bà mặc đồ trắng đưa cô vào ngôi chánh điện, vén bức màn màu xanh lên, trời ơi, các thánh tượng của tam giáo, tam trấn, và ngũ chi hệt trong giấc mơ đêm qua! Mùi hương thoang thoảng quen quen, hình như Bình đã hít thở nó từ lâu lắm rồi. Cô quỳ xuống đọc một đoạn kinh tứ thời. Sau này cô mới biết cuốn kinh đó là của đạo Cao Đài soạn ra. Còn thánh tượng Thiên nhãn, cô không phải nhắm mắt lại cũng nhìn thấy, nó được vẽ trong một bức tranh khổ rộng, con mắt đang toả ánh hào quang, xuyên qua các tầng mây, rọi xuống thế gian. Bình bỗng thấy người bồng bềnh như đang trôi trong không gian thuở hồng hoang, không hề có tốt xấu, thiện ác chỉ có sự huyền diệu của vũ trụ. Từ ngày nhập môn, với khả năng kỳ diệu của mình, Bình đã phủ lên thánh thất Cao Đài ở Hà Nội ánh sáng ngũ sắc của sự linh thiêng. Người tu theo đạo Cao Đài càng nhiều. Đạo bao giờ cũng lấy sự linh thiêng làm căn bản. Nhưng nếu chỉ dựa vào điều đó hẳn khó tồn tại với đời. Việc anh Pho của cô lao vào cuộc chiến tranh đã làm cân bằng lại giữa chuyện đời và chuyện đạo. Một nền đạo do người Việt mới lập ra tận Tây Ninh, muốn tồn tại được ngoài Hà Nội phải có điều kiện của nó. Anh Pho của cô đã biết nhập cuộc và được chấp nhận. Bình chưa hiểu hết những sâu xa trong công việc của anh. Cô cho rằng anh đã dấn quá sâu vào công việc của đời, không khéo sẽ lơ là công việc của đạo. Nhưng đâu là đời, đâu là đạo, bản thân cô cũng không phân được ranh giới rõ ràng. Bình nhẹ nhàng bước sang phòng ngủ của anh Pho. Từ mấy chục năm nay anh cô vẫn ngủ dưới đất trong diện tích hai mét vuông dưới lầu chuông. Cô ngắm anh ngủ thản nhiên không chăn không gối. Cơn gió đông lạnh buốt ào qua. Trong chiếc áo bông dày đến ba tấc cô vẫn không khỏi rùng mình. Anh vẫn nằm đó như đông cứng, phi phàm. Tấm thân cường tráng với nhịp thở đều đều. Cô quì dưới chân anh, ngắm nhìn gương mặt thanh tao cương nghị của anh. Đôi mắt kia từng nhìn cô hiền từ che chở. Đôi bàn tay to kệch kia đã từng run run bưng bát cháo chăm sóc cô lúc trái gió trở trời. Và trong lồng ngực kia, một trái tim nhân hậu đang đập hết mình vì đạo vì đời. Cô không ngưỡng mộ, không lo lắng che chở cho anh sao được. Đêm nay trời lạnh, cái lạnh cắt da cắt thịt của xứ Bắc, mặc áo bông đắp chăn mà cô vẫn không sao ngủ được. Còn anh! Trần trụi giữa đất trời. Phải chăng anh là thần thánh? Cô bỗng lùi xa. Phút chốc cô thấy anh như hiện thân của Đức Hoàng Thượng Đế, ngài cao vời vợi linh thiêng. Cô bàng hoàng đứng dậy. Lại một cơn gió se buốt nữa. Thần rét tinh nghịch không biết bằng cách nào đã chui vào trái tim cô, khiến nó cũng như đông cứng lại. Phải chăng cô cũng là một kẻ siêu phàm? Cô không thấy lạnh nữa. Nhưng kìa, trước mắt cô rõ ràng anh đang co người lại, hai tay ôm ngực như một đứa trẻ, anh rùng mình. Không, Đức Hoàng Thượng Đế, cô chưa từng thấy ngài rùng mình bao giờ. Ngài luôn uy nghiêm đường bệ, còn anh, anh vẫn là một con người bằng xương bằng thịt. Anh đang chống chọi với cái rét. Trái tim cô chợt tan ra. Dòng máu nóng hổi tràn lan khắp cơ thể. Cô nhắm mắt lại, cố làm cho con tim bớt thổn thức và cô nhận ra ánh sáng, phải rồi ánh sáng huyền diệu lấp lánh phủ lên người cô, chạy miên man trong da thịt cô. Cô như lạc vào một miền xa xưa, quên đi tất cả những yêu thương, những ưu phiền, buồn giận. Aùnh sáng, phải chăng ngươi đã đưa ta đến cõi vô thường của vũ trụ? Ta có còn là ta nữa không với trái tim non trẻ đang đập những nhịp đập rộn ràng? Ôi, nếu thế ta sẽ không có một giây phút nào sống được cho riêng ta, cho tự do của ta, nơi cái thường hữu vẫy gọi ta. Khi mà tâm tính lặng là ta đã về với bản thể của vũ trụ, nơi cái sinh ra được cái sinh ra của vạn vật… Lạy chư thần! Người hãy cho con được là Người trước đã. Bất giác cô cởi chiếc áo bông tiến về phía anh, đắp nó lên người anh như người mẹ phủ chiếc tã bông lên đứa con sơ sinh bé bỏng của mình, chiếc áo mang hơi ấm của một con người. Trái tim cô nóng rực. Cô nhắm mắt lại….
AI LÀ NGỌC TRÌ !?
Trong việc hành công, miệng con người không gọi là khẩu mà gọi là Ngọc Trì (ao ngọc). Trong miệng có hai suối nước là Ngọc Tuyền, xuất phát cam lồ là Ngọc dịch, đây là Tiên dược của hành giả chỉ có khi thanh tịnh trong thời thiền.
Cơ thể con người có một cấu tạo đặc biệt, mắt của chúng ta cho được mà miệng không cho được. Cho nên miệng là ta, ta là miệng. Ngọc Trì là chính chúng ta trên đường tu, tuy hai mà một. Ngọc Trì lên đường tu là cách nói hình tượng nhân cách của chủ đề CẨN NGÔN.
Đạo Trưởng Huệ Lương có kể chuyện về thời Khai Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho. Trong một thời cúng, các Đấng Tiền Khai đang đọc kinh trên bửu điện thì dưới trù phòng có tiếng cải cọ lớn tiếng. Tiền Bối Đòan Văn Bản bước ra và xuống bếp khuyên giải “Xin chị để cho các anh lớn dâng lễ xong rồi có chuyện gì thì nhờ phân xử”. Bà tiếp tục hét “không chờ gì hết!”, rồi tự nhiên nín luôn.
Mỗi ngày người ta thấy bà đánh một dấu phấn ở gốc cột. Đủ ba năm bà mua một hủ tương đến gặp Ngài Đòan Văn Bản, chỉ vào hủ tương rồi chỉ ra hướng Vũng Tàu. Ngài Đòan Văn Bản hỏi “chị muốn chúng tôi đưa chị ra Long Hải gặp anh lớn Nguyễn Ngọc Tương phải không? Bà gật đầu.
Ngài Đòan Văn Bản mua vé xe đò, đưa bà ra quận Đất Đỏ vào gặp Ngài Nguyễn Ngọc Tương (lúc bấy giờ Ngài đang làm chủ quận Đất Đỏ). Sau khi nghe tự sự Đức Nguyễn Ngọc Tương mời Ngài Đòan Văn Bản và đương sự cùng lên cúng thời ngọ. Trước khi xã đàn Đức Nguyễn Ngọc Tương lấy nước âm dương, cầu nguyện Ơn Trên và đưa cho bà uống, ngay tức thì bà nói ngay “con xin cám ơn Ơn Trên tha tội, từ đây con xin cẩn ngôn, cẩn hạnh”.
Chúng ta tu, miệng chúng ta phải tu theo, đó là Ngọc Trì lên đường tu.
NỀN ĐẠO PHÂN GOÁ KÌ 2 SỐ CHỨC SẮC CƠ HỘI TẠI TOÀ THÁNH BẾN TRE 1968-1970 BỊ BỌN CIA MĨ MUA CHUỘC.ĐÁNH ĐUỔI SỐ CHỨC SẮC CHÂN CHÍNH.ĐỂ CƯỚP TOÀ THÁNH BẾN TRE.
-Anh Lớn Hiến Thế Trần Chí Thành được Mật Trận Tổ Quốc Tỉnh trao quyết định là cốt cán trong nhóm chức sắc chân chính được đưa đi tị nạn tại Thánh Thất Đô Thành,đi hành Đạo gắn liền với Mật Trận Thành Phố.
Nước nhà Đạo sự thuyền đang khẩm
Lướt dặm trùng dương vượt thác ghềnh
Nghĩa vụ thiêng liêng người đáp vẹn
Đưa thuyền vững cập bến vinh quang
Hưởng ứng lời kêu gọi của Mật Trận khu 8,Người hăng hái hoà nhập Cao Đài Thống Nhứt 12 Phái thành một Hội Thánh liên giao Người là một thành viên là cốt cán của cách mạng trong Hội Thánh Liên Giao.
Với một thành viên Hội Thánh liên giáo trung thành kiên nghị,với một ngòi bút đanh thép lại hoà ái thân thương,người dùng ngòi bút đanh thép với giặc ngoài hộ trợ cho Hội Thánh Liên Giao đánh lại âm mưu chia rẽ lợi dụng tôn giáo của giặc,thắc chặt sự đoàn kết dân tộc ngày càng vững chắc,làm tròn sứ mạng vì dân tộc vì Đạo Pháp.
Cũng ngòi bút của Người phát hoạ lên niềm hoà ái thân thương đối với nội bộ đồng môn,còn khuynh hướng chia rẽ với những lời lẽ dịu hiền trong bài
”Lời Nguyện”
Chúng con thảy là con Thượng Đế
Nguyện thân nầy trọn để thờ Cha
Hiệp nhau nâng nổi Đạo Nhà
Sắt đinh là chí,trung hoà là tâm
Nguyện giải mối lạc lầm phân rẽ
Đem anh em bổn bể chung nhà
Phụng thờ mối Đạo thờ Cha
Phụng thờ mối Đạo công hoà toàn linh
Chúng con nguyện hy sinh tư kỷ
Gìn thân một lòng chung thuỷ cùng nhau
Bắt tay kết chặt tâm bào
Thuận cơ hồi bổn họp màu qui nguyên
Chúng con nguyện nên thân con thảo
Nguyện một lòng vẹn Đạo em ngoan
Nguyện làm Anh xứng dìu đàng
Con đò tái tạo lên đàng vĩnh sanh
NAM-MÔ CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT.
Từ Hội Thánh đến các Họ Đạo trong nước.Sau khi hội nghị nhóm họp Đạo xong đều có đọc bài Lời Nguyện của Người,đã ghi vào tâm niệm của mỗi tín đồ trong cả nước.Sau đây chúng ta hãy xem qua bài thơ của hiền MƯỜI NHÀN nói đến lòng biết ơn và tưởng nhớ ANH LỚN THƯỢNG SANH TRẦN CHÍ THÀNH.Tưởng Anh Lớn Thượng Sanh Trần Chí Thành
Hiến thế bao năm trọn kiếp tằm,
Nhả tơ óng mựơt đức uyên thâm
Cuộc đời lắm nổi cơn giông bão,
Chí cả lòng son vượt khỏi tầm.
Thượng Sanh Anh đã bước lên ngôi
Tỏ rõ nét son trong nếp Đạo
Chí-Thành trong sáng trắng như vôi.
Tiếng nói rơi rơi trong giảng đường
Xoá tan hiềm tị vẹt mù sương
Bao điều phiền muộn tan đâu hết,
Đọng lại trong lòng những nỗi thương
Mỗi đàn thuyết Đạo của anh
Hiện ra những nét chân thành thiêng liêng
Mọi người say đắm ngồi yên
Lắng nghe từng tiếng giảng khuyên của Người
Vững lòng yên dạ vui tươi
Lập trường thuần tuý vẹn mười đường Tu
Công quả,âm chất,công phu
Tam thừa cửu Phẩm đường Tu sẵn dành
Ai ơi nên hiểu ngọn ngành
Lời anh dạy bảo Chí Thành mới nên
Thương yêu là gốc chớ quên
Thánh ngôn Thầy dạy giữ bền trong tâm
Cao Đài là đấng huyền thâm
Kỳ ba đại xá chuyên cần rán tu
Chuyển đời khỏi chốn âm u
Thái dương vẹt ngút sương mù giúp ta
Nhân sanh trong chốn phồn hoa
Tu là cội phúc,tình là dây oan
Lời anh âm hưởng còn vang
Chúng em noi dấu gọi đàn cùng nhau.
Người Em
MƯỜI NHÀN
Vào ngày Đăng Điện của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương tại Toà Thánh Bến Tre lúc bấy giờ Nhân Sanh khắp nơi đến rất đông đủ vui họp mặt và tận mắt ngắm nhìn Đức Giáo Tông,thật là diễm phúc cho ai sanh ra thời kì nầy.
Lúc bấy giờ,tại xứ bạc liêu ngài THÁI LÃO SƯ TRẦN ĐẠO QUANG NHO CHƯỞNG PHÁP cũng có mặt và ngài cũng như bao anh lớn và nhân sanh khác,cũng lạy ĐỨC GIÁO TÔNG theo PHÁP ĐẠO là 9 lạy.
Nhưng cái Lạy của người có khác hơn so với người khác,khác đây không phải là khác kiểu lạy mà khác cái ý nghĩa lạy,chúng ta hãy nghe NHO CHƯỞNG PHÁP nói
Ngài nói”lúc tôi ở BẠC LIÊU thì tôi cũng bêết được nay là ngài đăng điện cho TÂN GIÁO TÔNG,nên tôi cũng đến dự,vì đây là nhân duyên.Nhưng nếu thật sự ông nầy là GIÁO TÔNG thì tôi sẽ lạy 9 lạy ông nầy bình thường dĩ nhiên là đích thực,còn ngược lại ông nầy sẽ bị bật ngữa”
Khi 9 lạy đã xong,Ngài NHO CHƯỞNG PHÁP ngửa mặt lên nhìn xem thái độ và tình chất của ĐỨC GIÁO TÔNG lúc bầy giờ ra sao,thì không gì đặc biệt ĐỨC GIÁO TÔNG vẫn điềm nhiên,như lúc nào vừa ngự trên ngai,thì lúc ấy ngài NHO CHƯỞNG PHÁP đứng lên tuyên bố”ĐÂY CHÍNH LÀ GIÁO TÔNG,ÔNG NẦY Đà ĐẮC ĐẠO”
Câu nói làm chấn động chư đạo hữu một cách mãnh liệt làm tăng thêm đức tin của nhân sanh đến người con tin yêu của THẦY.
Rồi đàn cúng cũng đã đến từ trong bửu điện CHÍ TÔN lại ngân nga bài kinh thật êm diệu và cảm động làm sao
“đầu cuối lạy ơn trên Từ Phụ
,ban ân lành phước đủ chúng sanh
,hoằng khai mối đạo nên thành,
nay cho một đấng thánh hành độ dân,
cầm giềng mối ra ân cứu khổ
giải cho đời sanh khổ đăng an,
bốn phường thừa nghiệp hưởng nhàn,
mừng nay đặng thấy một đàng thánh minh
………..”,,đó chính là bài KINH CHÚC MỪNG do ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG THÁI BẠCH KIM TINH VÔ VI ĐẠI ĐẠO ban tặng cho NHÂN SANH đọc khi cúng đế chúc mừng ngày nay ĐẶNG THẤY ĐỨC GIÁO TÔNG
Trong phạm vi Toà Thánh TÂY NINH,có một ngôi thánh thất nhỏ gọi tên là THÁI BÌNH THÁNH ĐỊA,toàn đạo nam nữ trên dưới 100 người nhưng Đức Tin nơi đạo rất vững vàng,rất kiên trung và tâm huyết noi gương Đức Giáo Tông tùng Hội Thánh BAN CHỈNH ĐẠO
Sau khi TOÀ THÁNH được PHÁP NHÂN do Tổng Thống Thiệu ban cho,thì trên ấy bắt đầu o ép,dụ dỗ các hội thánh,họ đạo THÁI BÌNH THÁNH ĐỊA không khỏi sự mua chuộc ấy,họ dụ dỗ và đàn áp,gây khó khăn nhiều nổi,vì trên ấy quyết không còn để một dấu vết hơặc kỉ niệm gì về ĐỨC GIÁO TÔNG,bắt buộc toàn đạo nơi ấy phải nhập môn lại nơi TOÀ THÁNH,bổn đạo phản đối ăằng nưững lời lẽ đạo đức và luật pháp đạo,có người phản đối bằng cả tuyệt thực.SUốt mấy tháng xua đuổi ăằng mọi thủ đoạn nhưng không lay chuyển được họ đạo nầy (thật đáng khen,hoan nghênh và kính phục thay ý chí của bổn đạo nời nầy)
Đức Giáo Tông hay tin liền phái ông phối sư Thái Phú Thanh đến an ủi và hỗ trợ tinh thần đạo,ông phối sư đến giúp họ đạo hơn một tháng mới về Hội Thánh.
Thấy có chức sắc Hội Thánh đến ở,trên ấy mới bỏ qua nhưng vẫn hậm hực
Trên Họ Đạo còn một cái kỷ vật một cái bàn của Đức Giáo Tông để lại,tôi nhã ý với Ban Đại Diện cố giữ,để Hội Thánh khi nào có nhà lưu niệm về lịch sử Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo sẽ đem về lưu niệm trong nhà nầy.Trên thất Bình Hoà-Gia Định cũng còn một cái ghế dùng để Đức Giáo Tông đứng thuyết đạo,ông Giáo Sư HANH hứa bao giờ Hội Thánh cần ông sẽ chở về để lưu niệm kỷ vật cảu “NGÀI”
Sống và tu hành trong nghịch cảnh,đắng cay đe dọa như bổn đạo THÁI BÌNH THÁNH ĐỊA nếu không có quyết tâm sắt đá và êến chí đâu dễ dàng giữ được Đạo Đức Nghĩa Nhân,tôi ví dụ như một túp liều tranh bên cạnh toà lâu đài,nhưng túp lều tranh tuy bé nhỏ nhưng giữ được nét thanh tao và vẻ lịch sự,còn hơn TOÀ LÂU ĐÀI,một điều tương phản giữa hai CHỨC SẮC cao cấp là con tin yêu của THẦY,sau nầy để lịch sử và tơời gian phê phán
……………………………………………………………………………………………………….
Tôi xin lưu ý anh em sau nầy nếu có vị nào viết lịch sử Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh hãy nhớ đến ngôi”THÁNH THẤT THÁI BÌNH THÁNH ĐỊA”một điểm son tuy nhỏ,nhưng tin thần Đạo Đức rất”TO LỚN”
@LÊ VĂN SÁU
CHUYỆN HUYỀN DIỆU Ở THÁNH THẤT THÀNH CÔNGSen Trắng
Hàng năm cứ mỗi độ Thu về, người tín hữu Cao Đài nhất là phái nữ rộn ràng chuẩn bị chào đón ngày Hội Yến Bàn Đào để chầu lễ Đức Mẹ Diêu Trì và Cửu Vị Tiên Nương. Rằm tháng Tám Đinh Hợi năm nay, lễ Hội Yến Bàn Đào và Đại Hội Nữ Phái lần thứ 72 trùng vào thời gian tổ chức khóa tu Thu Phân cho các cấp thiền sinh Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý. Đạo hữu các nơi về dự khá đông. Ban tổ chức khá vất vả, vừa lo thu xếp chỗ ở cho thiền sinh, rồi lại phải tạm dời một số chỗ ở để có thêm nơi cho khách thiện tâm chầu lễ. Dù đang trong khóa tịnh nhưng các chị em vẫn cùng nhau thu xếp, lo trang hoàng Bửu Điện, chưng bông trái, tập dượt nghi lễ… Ban trù phòng vừa lo cơm nước hộ tịnh vừa lo cơm nước đãi đạo hữu xa gần tìm về Cơ Quan dịp này. Tuy bận rộn, nhọc mệt, nhưng ai cũng vui, bởi mỗi năm chỉ có một ngày hội lớn nhứt của phái nữ.
Đại Hội Nữ Chung Hòa năm nay hân hạnh đón tiếp đại diện Nữ Chung Hòa của 28 thánh sở về tham dự, có đoàn ở tận Cà Mau xa xôi. Có 18 phúc trình đạo sự Nữ Chung Hòa các nơi trong sáu tháng qua. Mỗi nơi một vẻ, nhưng có một nét chung là cùng nhau hành đạo, giúp nhau tu tiến, trau dồi giáo lý, làm từ thiện tùy theo khả năng của chị em. Mỗi nơi đều nói lên sự cố gắng và gặt hái được những kết quả đáng mừng.
Đại hội đặc biệt chú ý phúc trình của đạo tỷ Nguyễn Thị Kim Liêng, thuộc Nữ Chung Hòa thánh thất Thành Công (ấp Thành Nhì, xã Thành Công, thuộc huyện nghèo Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang). Xã Thành Công có năm ấp với 5.600 nhân khẩu mà Thành Nhì là ấp nghèo ở vùng sâu, được trợ cấp theo Nghị định 135 của Nhà nước. Thiên nhiên ở đây khắc nghiệt. Sáu tháng mưa có nước ngọt, người dân làm lúa được mỗi năm một mùa, chỉ mong sao có đủ lúa ăn cả năm. Sáu tháng nắng còn lại, nước mặn, đồng khô cỏ cháy, trồng trọt không được, có người xoay ra nuôi tôm. Nuôi tôm thì năm ăn năm thua, bỏ tiền và công sức mà có khi chẳng thu về được vốn.
Người dân ở Thành Công chân chất, cần cù, nhưng cuộc sống vật chất quá đỗi khó khăn. Đời sống tinh thần cũng khó vượt lên khỏi hoàn cảnh gian nan đó. Địa phương này không có nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Chỉ có một ngôi chùa Phật nho nhỏ, rất ít Phật tử. Sống ở một nơi như vậy, mỗi khi gặp điều gì vướng mắc trong đời sống tinh thần hay tâm linh, người dân thường rất lúng túng.
Thánh thất Thành Công thuộc Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, trước đây cất bằng cây và lá dừa nước đơn sơ. Mới độ năm năm nay, bổn đạo kẻ góp công người góp của, lần lần xây được thánh thất khang trang hơn, đủ cho hơn một trăm đạo hữu có chỗ thờ cúng được khá hơn. Ngẫu nhiên những lúc thánh thất Thành Công gặp khó khăn, bỗng dưng có quới nhơn từ nơi khác ghé đến trợ giúp. Người dân gần xa quanh thánh thất tuy không có Đạo, thỉnh thoảng vẫn tới thắp hương, xem đây như một chỗ dựa tâm linh.
Cách đây không lâu, một hôm bà Nguyễn Thị Tốt (62 tuổi), người ấp Thành Nhất, cùng xã Thành Công, đến gặp ông Chánh Hội Trưởng thánh thất Thành Công tỏ bày việc nhà và nhờ giúp đỡ. Nguyên cha bà Tốt là Nguyễn Văn Thiên từ trần năm 2004, thọ 92 tuổi. Gần đây bà Tốt nằm mơ thấy cha về kêu cứu: “Tốt ơi! Cứu ba với. Chỉ có con là cứu được ba thôi. Ba khổ lắm con ơi!” Trong mơ bà Tốt nhìn thấy ông Thiên nằm lăn lộn dưới đất, bị một lũ quạ đen xúm lại xâu xé, mổ lủng lưng, moi hai mắt, mình mẩy bê bết máu. Bà vội chạy đến đỡ đầu cha, đàn quạ vụt bay lên mất dạng. Liên tiếp mấy đêm bà đều nằm mơ thấy vậy.
Bà Tốt không phải là tín đồ Cao Đài, nhưng biết ăn chay trường, có lòng tin tưởng Trời Phật. Vì thế bà tìm đến chùa Phật trong vùng xin cúng giải nạn cho cha nhưng không kết quả, vì ác mộng vẫn hiện về.
Sau đó, con gái bà Tốt là Loan sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh trở về quê kể với bà rằng đã hai lần chị nằm mơ thấy ông ngoại kêu cứu. Chị cũng thấy ông ngoại bị đàn quạ cấu xé, máu me dầm dề cả người. Bà Tốt bàng hoàng, sửng sốt vì giấc mơ của hai má con sao giống nhau đến thế!
Sau nhiều đêm ngày xót xa, trăn trở thương cảm hồn cha phải chịu khổ nạn, bà Tốt quyết định đến gặp ông Chánh Hội Trưởng thánh thất Thành Công tỏ bày sự việc, mong ông có cách cứu giúp.
Lần đầu tiên gặp một sự việc ly kỳ như vậy, ông Chánh Hội Trưởng suy nghĩ đắn đo mãi. Cuối cùng ông hướng dẫn bà Tốt làm một sớ cầu Đạo, xin nhập môn vô vi cho vong linh cha. Bà Tốt cũng cần làm lễ cầu siêu cho cha liên tục vào các ngày sóc vọng hàng tháng và thành tâm làm công quả một thời gian.
Bà Tốt làm y theo hướng dẫn như trên. Đến rằm tháng bảy Đinh Hợi, bà đã cầu siêu cho cha được năm lần. Mỗi lần bà Tốt góp công quả 100.000 đồng và hồi hướng cho cha. Riêng ngày rằm tháng bảy Đinh Hợi, bà công quả 500.000 đồng để nấu cơm cúng cầu siêu cho bá tánh ở thánh thất, và thêm 500.000 đồng để giúp những người nghèo khổ.
Sau đó, vào hai đêm 17, 18 tháng 7 Đinh Hợi, bà Tốt nằm mộng thấy cha về, mặc áo dài trắng, đội khăn đóng đen. Ông vui vẻ đi trong một đoàn người cũng mặc áo dài trắng và đội khăn đóng đen. Có người còn búi tóc nữa. Cha bà nói: “ Ba vô đạo Cao Đài rồi. Con đừng lo cho ba nữa. Bây giờ ba khỏe lắm, không ai bắt bớ, giam cầm ba nữa đâu.”
Cùng thời gian này, chị Loan ở trên thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm mơ thấy y như vậy. Chị kể với bà Tốt: “Con thấy ông ngoại vui lắm. Không khóc lóc cầu cứu như những lần trước. Ông ngoại mặc áo dài trắng, đội khăn đóng đen, đi chung với bạn đạo nữa.”
Gia đình bà Tốt mừng khôn xiết, lập tức đến báo tin cho ông Chánh Hội Trưởng và bổn đạo trong họ Đạo chia sẻ điều kỳ diệu này. Tin vui lan nhanh, kết quả là trong những ngày còn lại của mùa vu lan Đinh Hợi, nhiều gia đình đã đến thánh thất Thành Công xin làm lễ cầu siêu cho cửu huyền thất tổ.
Tháng Tám Đinh HợiSen Trắng——————————Trích từ trang nhipcaugiaolyNhận xét:Đọc bài này chắc những ai theo chủ nghĩa duy vật thì cho là hoang đường, tuy nhiên ta thấy những điểm son trong bài viết này cũng như công cuộc liên giao hành đạo hiện nay của Các Hội Thánh Cao Đài hiện nay1/ Một lần nửa ta thấy luật nhơn quả hiện hữu vẫn còn đấy trong một xã hội hiện đại ngày nay. từ đó trong cuộc sống ta nên nhớ và nhắc nhở mình tuân theo.2/ Tình cảm nồng nàn giửa các tín đồ thuộc HT Cao Đài Ban Chỉnh Đạo với CQPTGLĐĐ rất keo sơn gắn bó từ sư đến nay và mổi chúng ta cần giử gìn phát qui, đó là chìa khóa cho tương lai hướng đến tiếng nói chung, cho dù chuyện đó còn ra …..Thanh Điện


Giữa năm 1933 Đức Giáo Tông lập”ngôi nhà tạm”bằng cây lá (hiện là Đầu Sư Đường)bên trong thờ Thầy,trứoc bàn thờ Thầy (Thiên Nhãn)để một cái ghế hình Bát Giác,trên mặt ghế để một lư hương,khỏi đầu bên trên khoảng 1m8 có một chữ Vạn nằm ngang mỗi cánh có một đường lụa xanh thòng xuống mặt bàn 2m7.Bên ngoài thờ hình Đức Hộ Pháp(ngó vô)
Đức Giáo Tông trấn nhậm Anh Lớn Chánh Phối Sư Thái Giáp Thanh trụ trì Ngôi nhà Tạm,mãi đến ngày 20/4/Giáp Ngũ (1954) Anh Lớn qui vị !…
Lắng đọng nghe hè……..
Chín Từng Trời chuyển động…hào quang chiếu diệu tiễn đưa”một đấng thánh hành độ dân”
Ngày Đức Lý Giáo Tông giáng trần cầm giềng mối Đạo tại thế…
“Nay cho một đáng Thánh Hành độ dân
Cầm giềng mối ra ân cứu khổ
Giải cho đời thoát khỏi biển mê
Trần gian lao khổ nhiều bề…”
Ngày Đức Lý Giáo Tông giáng trần như thế….mặt trời chói rọi,nhưng đi xuống nhường chỗ cho đêm.Mặt trời không bao giờ biết đêm,chỉ có trăng sao mới thao thức với đêm,trăng cải háo đêm dài,soi đường làm cho người đi trong đêm tối không còn sợ hãi,ánh trăng thức tỉnh đem ánh sáng chân lý độ đời
Ánh trăng phát sinh đến Đức Giáo Tông rọi rõ những việc trước kia chưa từng được nghe đến…Giáo lý Cao Đài nhân bản vượt trên những hành rào chủng tộc và quốc gia….Buổi Hạ Ngươn mạt Pháp…..những tình trạng hỗn loạn của thế giới phản chiếu sự xao động trong tâm trí con ngừơi !
Lịch sử đã trở thành tánh cách hoàn cầu…nay nhơn loại đã hợp đồng,càn khôn dĩ tận thức,không còn Âu hay Á,Đông hay Tây.
Và rồi hôm nay ngọn thu phong đã thổi giựt lá vàng,dù Người đã ra đi hay đang trở về cõi nguồn tịch nhiên với sự sống thì cũng để lại một khoảng trống lớn cho toàn Đạo ở lại.
Một thửo”Vừon Trước Hoa Kì Thọ”bao người đến rồi đi,bao người chia xa rồi trở lại,mỗi tháng ngày qua là một thay đổi lớn gần như xoá mờ đi hết bao vết tích củ!Nhưng tâm tình của Người,cuộc sống của Người vẫn còn thắp sáng cho muôn vạn người sau noi dấu !
Trời về đêm,vườn tre thâm u sâu lắng khi khi không còn gió bão.Sự ra đi của Người có khác gì với đêm thâu lắng đọng không gợn chút bụi trần !Trong khoảnh khắc bình yên nầy,tôi chỉ còn biết chấp tay đem hết tâm thành kính hướng về Người !
Sắc thân Tiên Ông Bồ Tát đã mang trong cõi Vô Thường sanh tử,tuy quả đắc viên tròn,Người vẫn đem hạnh độ sanh đi đến những sắc trời an nhiên tịch lạc khác bằng từ “Ra Tịnh”.
Chúng sanh bao giờ cùng tận giữa trùng khơi dậy sóng,thuyền từ cứu độ nào ngại chi cuộc hành trình vạn nẽo xa xôi !!!
Dường như đêm tối sắp tàn…..bầu trời ngài mai toả sáng hơn trên mỗi dặm đường đưa Người trở lại !
“Sáu mươi năm tưởng lẽ mầu
May sao được dịp nay hầu dâng hương”
Toàn Đạo dẫn đàn giải khổ qua Tam Diệu Huyền Môn luôn tưởng niệm:…
“Tam Diệu Huyền Môn Phật Pháp Tăng
Linh Đài Giáng Ngự Lý Đạo Hoằng
Tương Hiệp Vô Vi Hoàn Nhứt Khí
Đạo Thành Hiệp Độ Nhân Gian.”
Thọ hưởng hồng ân Đại Xá.
Hữu hạnh thay !
N.A.T